CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1. Không gian văn hóa Hòa Bình và Thanh Hóa 1.Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên Hòa Bình là một tỉnh nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc của Tổ quốc, phía Đông giáp thành phố Hà Nội. Phía Bắc giáp các tỉnh Phú Thọ; phía Đông Nam giáp tỉnh Hà Nam, Ninh Bình; phía Tây, Tây Bắc, Tây Nam giáp với các tỉnh Sơn La, Thanh Hóa. Trung tâm hành chính tỉnh cách thủ đô Hà Nội 76 km về phía Tây theo hướng đường quốc lộ số 6, là khu vực đối trọng phía Tây của Thủ đô Hà Nội có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế và khu vực phòng thủ của đất nước.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4. Hòa Bình được coi là vùng đệm giữa một bên là châu thổ Bắc Bộ và một bên là vùng núi non trùng điệp Tây Bắc. Chính điều này đã tạo nên cảnh sắc thiên nhiên hấp dẫn và kì vĩ ở đây. Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Hòa Bình là đồi núi dốc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam chia thành hai vùng rõ rệt.
Phía Tây Bắc (vùng cao): bao gồm các dải đồi núi lớn bị chia cắt nhiều, địa hình hiểm trở, đồi núi dốc đi lại khó khăn. Phía Đông Nam (vùng thấp): địa hình gồm các dải núi thấp, đi lại thuận lợi. Hòa Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa nắng thất thường gây ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp trong tỉnh. Bên cạnh đó hệ thống sông ngòi trên địa bàn tỉnh phân bố khá đồng đều với các sông lớn như: sông Đà, sông Bưởi, sông Lạng, sông Bùi… Mạng lưới giao thông đường thủy và đường bộ tương đối phát triển và phân bố đồng đều rộng khắp.
Đồng thời ở đây còn có nguồn điện lực lớn từ Nhà máy thủy điện Hòa Bình đem lại giá trị kinh tế không chỉ cho cả nước nói chung mà cho tỉnh Hòa Bình nói riêng. Với vị trí và điều kiện tự nhiên như vậy rất thuận lợi cho tỉnh Hòa Bình phát triển kinh tế văn hóa xã hội. 11 z Thanh Hóa là một tỉnh lớn nằm ở cực Bắc miền Trung Việt Nam được mệnh danh là “khúc ruột của miền Trung”. Thanh Hóa nằm ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ.
Điểm cực Bắc của Thanh Hóa cách thủ đô Hà Nội 150 km. Phía bắc Thanh Hóa giáp các tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình, Sơn La; phía nam và tây nam giáp tỉnh Nghệ An; phía tây giáp tỉnh Hủa Phăn của nước Lào; phía đông Thanh Hóa mở ra phần giữa của vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông với đường bờ biển dài hơn 102 km. Diện tích tự nhiên của Thanh Hóa là 11. Thanh Hóa nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ, có hệ thống giao thông phát triển thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế với các tỉnh trong cả nước và quốc tế.
Địa hình Thanh Hóa nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Đồi núi chiếm ¾ diện tích của toàn tỉnh tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế lâm nghiệp, với nguồn tài nguyên khoáng sản, lâm sản dồi dào và phong phú. Căn cứ vào địa hình Thanh Hóa có thể chia ra làm 3 vùng: Miền núi và trung du, vùng đồng bằng, vùng ven biển. Với vị trí địa lí đặc biệt, đây là nơi hội tụ đầy đủ tiềm năng của ba vùng kinh tế: miền núi, trung du, đồng bằng ven biển với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú bao gồm tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản.
Có thể nói rằng đây là vùng đất thu nhỏ của nước Việt Nam. Thanh Hóa có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Khí hậu ở Thanh Hóa được quy định bởi hoàn cảnh địa lý của các vùng đồng bằng, vùng miền núi nên giữa các vùng mang đặc trưng khí hậu khác nhau. Bờ biển Thanh Hóa dài với mạng lưới sông ngòi dày đặc, nên các yếu tố thủy văn có ảnh hưởng tới đời sống của người dân trong tỉnh.
Căn cứ vào diễn biến của dòng chảy theo thời gian và sự phân hóa của các con sông theo không gian, Thanh Hóa chia thành 3 vùng thủy văn: vùng thủy văn hệ thống sông Mã, vùng thủy văn hệ thống sông Chu, vùng thủy văn ảnh hưởng nước triều. Như vậy, ở Thanh Hóa có nhiều vùng khí hậu và thủy văn mang đặc trưng khác nhau. 12 z Chính điều này đã tác động sâu sắc đến điều kiện sinh sống, thói quen của người dân, chi phối tính cách và khí chất của con người ở mỗi vùng trong tỉnh. Đồng thời cũng tác động mạnh mẽ đến cảm hứng sáng tạo văn hóa, nghệ thuật của con người trên cái nền văn hóa chung, đem lại những sắc thái văn hóa riêng của từng vùng.
Đây là điều kiện, là cơ sở để hình thành các vùng văn hóa khác nhau tạo nên những đặc trưng riêng mà ta có thể thấy được khi khảo sát truyền thuyết dân gian về Nữ thần, Mẫu thần và Thánh Mẫu ở Thanh Hóa. Đặc điểm lịch sử - xã hội Hòa Bình là một miền đất cổ, cách đây khoảng trên một vạn năm, trong khi hầu hết đồng bằng Bắc bộ còn bị chìm dưới nước biển hoặc lầy lội thì Hòa Bình chính là một trung tâm dân cư quan trọng. Cư dân ở đây đã sáng tạo nên “Nền văn hóa Hòa Bình” nổi tiếng. Người nguyên thủy ở Hòa Bình đã sáng tạo ra một loạt các công cụ bằng đá như lưỡi rìu, lưỡi dao, mũi lao, đồ gốm… Những dấu tích của người nguyên thủy đã tìm được ở 72 điểm trong tỉnh đã khẳng định Hòa Bình là một trong những trung tâm của người nguyên thủy ở Việt Nam.
Tỉnh Hòa Bình có dân số trên 83 vạn người, có 7 dân tộc sinh sống bao gồm đồng bào: Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông và Hoa. Trong đó người Mường sống tập trung đông nhất trên địa bàn tỉnh. Năm 43, nghĩa quân của Trưng Trắc và Trưng Nhị đã lập căn cứ ở núi Vua Bà (nay thuộc huyện Lương Sơn), đồng bào người Mường ở Hòa Bình đã tích cực ủng hộ và tham gia chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Hai Bà để đánh đuổi quân xâm lược Đông Hán. Nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình còn tích cực ủng hộ tham gia cuộc kháng chiến chống quân Minh (1418- 1426).
Lê Lợi tiến hành khởi nghĩa Lam Sơn từ năm 1418 đến năm 1426. Nghĩa quân hoạt động trên một địa bàn rộng lớn trong đó có nơi cư trú của đồng bào Mường, Thái (Hòa Bình). Nhân dân Hòa Bình đã giúp đỡ lương thực, thực phẩm và chiến đấu cùng 13 z với nghĩa quân. Cho đến ngày nay vẫn còn lưu truyền nhiều truyền thuyết trong dân gian về các tấm gương yêu nước của những người phụ nữ nơi đây.
Trong một lần đi dẹp giặc ở Mường Lễ (Sơn La), khi qua đoạn Thác Bờ hiểm trở nhà vua Lê Lợi cùng các quân sĩ được nhân dân địa phương giúp đỡ rất nhiệt tình. Trong số đó có bà Đinh Thị Vân, người Mường ở xã Hào Tráng và một bà người Dao ở xóm Mỏ Né, xã Vầy Nưa đã giúp vua về quân lương và thuyền bè để vượt thác. Khi hai bà mất vua Lê Lợi đã truy phong công trạng cho hai bà và ban chiếu để lập đền thờ. Thanh Hóa là một tỉnh rộng lớn với dân số trên 3,4 triệu người sinh sống.
Vùng đất này là địa bàn cư trú của 7 dân tộc anh em: Kinh, Mường, Thái, Dao, Mông, Thổ và Khơ Mú. Mỗi dân tộc có một vẻ đẹp văn hóa riêng tạo nên bức tranh đa màu sắc của vùng văn hóa xứ Thanh. Trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc, xứ Thanh là một vùng đất cổ là địa bàn sinh sống đầu tiên của con người. Đây còn là nơi có nhiều nền văn hóa góp phần quan trọng trong tiến trình hình thành và phát triển lịch sử, văn hóa của nhân loại.
Vào những năm 60 của thế kỉ XX, giới khảo cổ học đã phát hiện dấu tích con người thời tối cổ ở Núi Đọ (Thiệu Hóa- Thanh Hóa). Tiếp đó là di chỉ hang Con Moong phát hiện ở Thạch Thành, chứa đựng dấu vết khảo cổ học từ văn hóa Sơn Vi (thuộc thời đại đá cũ) ở lớp dưới, trên đó là các lớp văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn. Quá trình chinh phục vùng đồng bằng trên đất Thanh Hóa của cư dân thời đồ đá mới đã để lại nền văn hóa Đa Bút. Văn hóa Hoa Lộc là văn hóa khảo cổ thuộc sơ kì thời đại kim khí, phát hiện ở huyện Hậu Lộc.
Đông Sơn là văn hóa thời đại kim khí (đồ đồng, đồ sắt) được phát hiện vào năm 1924, tại làng Đông Sơn, huyện Đông Sơn. Trước văn hóa Đông Sơn, Thanh Hóa đã trải qua các giai đoạn phát triển văn hóa sau: Cồn Chân Tiên, Đông Khối- Quỳ Chữ. Đây là sự chuẩn bị mọi mặt để đến văn minh Văn Lang cách đây hơn 2000 năm lịch sử, văn hóa Đông Sơn ở Thanh Hóa cho thấy sự phong phú độc đáo trên đất nước ta tập trung chủ yếu ở lưu vực sông Hồng và sông Mã. 14 z Thanh Hóa là một vùng đất có truyền thống đấu tranh anh dũng kiên cường.
Đây là nơi phát tích của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam. Vùng đất này gắn liền với sự tồn vong, hưng thịnh của quốc gia và dân tộc. Thanh Hóa là nơi sản sinh ra nhiều anh hùng dân tộc, lưu danh sử sách như: Bà Triệu, Lê Hoàn, Lê Lợi, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền… Không những thế vùng đất “Địa linh nhân kiệt” này còn là nơi sinh ra các vị chúa nổi tiếng như: chúa Trịnh, Chúa Nguyễn bắt đầu từ Nguyễn Hoàng… Những tấm gương yêu nước được truyền thuyết hóa qua những câu chuyện kể dân gian thể hiện lòng biết ơn của nhân dân đối với những người có công với đất nước. Thanh Hóa còn là một vùng đất hiếu học.
Trong lịch sử của khoa bảng nước ta, vùng đất này có 1627 nhà khoa bảng, trong đó có 240 tiến sĩ, với nhiều tên tuổi được nhân dân ca ngợi và lưu danh trong các lĩnh vực văn hóa, sử học, quân sự, ngoại giao nổi tiếng như: Khương Công Phụ, Lê Văn Hưu, Đào Duy Từ… Đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, nhân dân Thanh Hóa không ngại gian khổ đã kiên cường đứng lên bảo vệ tổ quốc. Thanh Hóa đã làm tròn sứ mệnh của hậu phương lớn, đóng góp sức người và sức của cùng với nhân dân cả nước giành lại độc lập tự do cho nước nhà.