Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế "Các nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận của người quản lý tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Ngô Hoàng Điệp dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Văn Dương, chuyên ngành Kế toán (mã số 9.01) tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2019.

Về tính cấp thiết, báo cáo tài chính là công cụ cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và các luồng tiền nhằm phục vụ quá trình ra quyết định kinh tế của các đối tượng sử dụng (Epstein và Jermakowicz, 2008; Mackenzie và cộng sự, 2012). Mức độ hữu ích của thông tin kế toán phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của thông tin lợi nhuận (Ball và Shivakumar, 2005; Dechow, Kothari và Watts, 1998). Tuy nhiên, tính linh hoạt của các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán tạo điều kiện cho người quản lý can thiệp vào số liệu lợi nhuận vì các động cơ cá nhân, hợp đồng hoặc áp lực từ thị trường vốn (Healy và Wahlen, 1999; Dechow và Skinner, 2000). Tại Việt Nam, nhiều sai phạm và biến động số liệu lợi nhuận sau kiểm toán tại các doanh nghiệp niêm yết như Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết (BBT), Tổng Công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVX), hay Công ty Cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành (TTF) đã làm suy giảm niềm tin của công chúng vào tính trung thực của báo cáo tài chính.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra hai vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo tại thị trường chứng khoán Việt Nam:

  • Phần lớn các công trình trong nước chỉ tập trung vào hành vi quản trị lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích mà chưa xem xét đồng thời hành vi quản trị lợi nhuận thông qua việc can thiệp vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, trong khi người quản lý hoàn toàn có thể thay thế hoặc kết hợp linh hoạt cả hai phương thức này.
  • Mô hình quản trị công ty tại Việt Nam phổ biến với cơ cấu hai tầng gồm Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát độc lập, khác biệt so với mô hình Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị ở các quốc gia phát triển, song các nghiên cứu trước đây chưa đi sâu phân tích tác động của các đặc điểm thuộc Ban kiểm soát đến hành vi này.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:

  • Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu các nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận của người quản lý tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm kiểm soát hành vi quản trị lợi nhuận, nâng cao chất lượng báo cáo tài chính.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Thứ nhất, đo lường và đánh giá thực trạng hành vi quản trị lợi nhuận của người quản lý tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
    2. Thứ hai, xác định các nhân tố tác động và mức độ tác động của các nhân tố đến hành vi quản trị lợi nhuận của người quản lý tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Người quản lý tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thực hiện quản trị lợi nhuận ở mức độ nào?
  • Câu hỏi 2: Những nhân tố nào tác động và mức độ tác động của các nhân tố đến hành vi quản trị lợi nhuận của người quản lý tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam như thế nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hành vi quản trị lợi nhuận và các nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận của người quản lý doanh nghiệp. Hành vi quản trị lợi nhuận được đo lường thông qua hai chỉ tiêu đại diện: biến dồn tích bất thường (đối với quản trị lợi nhuận dồn tích) và tổng các khoản bất thường của dòng tiền hoạt động kinh doanh, chi phí tùy biến và chi phí sản xuất (đối với quản trị lợi nhuận qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh).
  • Phạm vi không gian: Các công ty niêm yết trên hai Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX). Luận án loại trừ các công ty đăng ký giao dịch trên sàn UPCOM, đồng thời loại bỏ các doanh nghiệp thuộc ngành ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm và các quỹ đầu tư tài chính do đặc thù riêng biệt về báo cáo tài chính.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 7 năm, từ năm 2010 đến năm 2016.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, báo cáo quản trị thu thập thủ công và số liệu cung cấp bởi Công ty Cổ phần Vietstock.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân loại theo ba mạch nghiên cứu chính: mô hình đo lường, kiểm định sự phù hợp của mô hình và các nhân tố quản trị tác động đến hành vi.

Về các mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích:

  • Mô hình Healy (1985): Giả định các khoản dồn tích bình thường kỳ vọng bằng 0, coi toàn bộ tổng biến dồn tích trên tổng tài sản đầu kỳ là biến dồn tích bất thường đại diện cho hành vi quản trị lợi nhuận.
  • Mô hình DeAngelo (1986): Nhận định dồn tích bình thường phát sinh ngẫu nhiên và ổn định qua các năm, đo lường biến dồn tích bất thường bằng chênh lệch tổng biến dồn tích giữa hai năm liên tiếp chia cho tổng tài sản đầu kỳ.
  • Mô hình Jones (1991): Tách tổng biến dồn tích thành dồn tích bình thường và dồn tích bất thường thông qua phương trình hồi quy với biến chênh lệch doanh thu và biến nguyên giá tài sản cố định hữu hình.
  • Mô hình Dechow, Sloan và Sweeney (1995): Cải tiến mô hình Jones bằng cách loại trừ sự thay đổi của các khoản phải thu khỏi biến động doanh thu, hạn chế sai số khi nhà quản lý ghi nhận doanh thu khống.
  • Mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005): Bổ sung thêm biến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản năm trước vào mô hình Jones cải tiến để kiểm soát hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp.
  • Mô hình Yoon, Miller và Jiraporn (2006): Thay thế tổng tài sản bằng doanh thu thuần, đưa thêm biến nợ phải trả và chi phí chi trả cho nhân viên hưu trí để thích ứng với thị trường Hàn Quốc.
  • Mô hình Raman và Shahrur (2008): Bổ sung biến tỷ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách nhằm kiểm soát cơ hội tăng trưởng của doanh nghiệp.

Về mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh:

  • Mô hình Roychowdhury (2006): Đo lường sự bất thường của ba chỉ tiêu kinh tế thông qua hàm tuyến tính với doanh thu và biến động doanh thu: dòng tiền hoạt động kinh doanh bất thường, chi phí sản xuất bất thường và chi phí tùy biến bất thường.
  • Mô hình Gunny (2010): Phát triển dựa trên Roychowdhury, tập trung vào bốn dấu hiệu bất thường gồm chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí bán hàng và quản lý, lợi nhuận từ thanh lý tài sản cố định, và việc sản xuất vượt mức để giảm giá thành sản phẩm.

Về các nghiên cứu kiểm định sự phù hợp của mô hình đo lường:

  • Bối cảnh quốc tế: Chen (2011) tại Trung Quốc kết luận mô hình Jones điều chỉnh vẫn là lựa chọn tốt nhất nhưng cần kết hợp thêm các phương pháp khác; Islam, Ali và Ahmad (2011) tại Bangladesh nhận thấy mô hình Jones cải tiến từ phương Tây không hiệu quả nếu không điều chỉnh thêm các biến chi phí đặc thù.
  • Bối cảnh Việt Nam: Nghiên cứu của Nguyễn Anh Hiền và Phạm Thanh Trung (2015) trên 308 công ty năm 2014, nghiên cứu của Nguyễn Anh Hiền và cộng sự (2015) trên 380 công ty giai đoạn 2013-2014, và nghiên cứu của Võ Thị Quý và Dương Trọng Nhân (2017) trên 300 công ty niêm yết tại HOSE giai đoạn 2013-2015 đều thống nhất khẳng định mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005) có mức độ phù hợp cao nhất để nhận diện hành vi dồn tích bất thường. Phạm Thị Bích Vân (2012, 2013) kiểm định mô hình Jones và đề xuất bốn cách tiếp cận đánh giá sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận dựa trên độ lệch chuẩn dòng tiền và tài sản hoạt động thuần.

Về các nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận:

  • Cấu trúc Hội đồng quản trị: Việc kiêm nhiệm vị trí Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành có tác động làm tăng quản trị lợi nhuận theo Klein và cộng sự (2002), Wang và Liang (2008), Nekhili và cộng sự (2016); ngược lại Liu và cộng sự (2012), Soliman và cộng sự (2013), Abbadi và cộng sự (2016) tìm thấy tác động ngược chiều. Tính độc lập của Hội đồng quản trị có mối quan hệ ngược chiều với quản trị lợi nhuận theo Xie và cộng sự (2003), Niu (2006), Osma và Noguer (2007), Alves (2014); trong khi Al-Rassas và cộng sự (2015) tìm thấy quan hệ cùng chiều. Quy mô Hội đồng quản trị cho kết quả trái chiều giữa Ayemere và cộng sự (2015) (ngược chiều) và Kao và Chen (2004), Nekhili và cộng sự (2016) (cùng chiều). Tần suất họp của Hội đồng quản trị có tác động giảm quản trị lợi nhuận trong công trình của Xie và cộng sự (2003), Ronen và Yaari (2008). Chuyên môn tài chính của thành viên Hội đồng quản trị làm giảm mức độ can thiệp lợi nhuận (Xie và cộng sự, 2003; Ayemere và cộng sự, 2015; Abbadi và cộng sự, 2016). Sự hiện diện của thành viên nữ giúp nâng cao chất lượng thông tin kế toán theo Srinidhi và cộng sự (2011), Thiruvadi và Huang (2011), Bathula (2008).
  • Ủy ban kiểm toán: Quy mô ủy ban kiểm toán có quan hệ ngược chiều với quản trị lợi nhuận theo Lin và cộng sự (2006), Ayemere và cộng sự (2015). Sự hiện diện của thành viên có chuyên môn tài chính trong ủy ban kiểm toán giúp kiềm chế hành vi bóp méo số liệu (Xie và cộng sự, 2003; Soliman và cộng sự, 2013; Bamahros và cộng sự, 2015). Số lần họp của ủy ban kiểm toán thể hiện tính năng động và tác động ngược chiều với quản trị lợi nhuận (Abbott và cộng sự, 2004; Garven, 2015).
  • Kiểm toán độc lập: Các công ty niêm yết được kiểm toán bởi các hãng kiểm toán Big 4 có mức độ quản trị lợi nhuận thấp hơn (Chen và cộng sự, 2005; Soliman và cộng sự, 2013; Abbadi và cộng sự, 2016; Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016; Nguyễn Hà Linh, 2017). Việc thay đổi công ty kiểm toán làm tăng hành vi quản trị lợi nhuận ở năm trước khi thay đổi (DeFond và Subramanyam, 1998; Davidson và cộng sự, 2006). Phí kiểm toán có quan hệ ngược chiều với hành vi can thiệp lợi nhuận theo Frankel và cộng sự (2002), Ferguson và cộng sự (2004).
  • Cấu trúc sở hữu vốn: Tỷ lệ sở hữu của người quản lý có quan hệ ngược chiều với quản trị lợi nhuận theo Alves (2012), Ayemere và cộng sự (2015), nhưng cùng chiều trong nghiên cứu của Teshima và Shuto (2008), Yang, Lai và Tan (2008). Tỷ lệ sở hữu nhà nước có tác động làm giảm quản trị lợi nhuận theo Wang và Yung (2011), Ayemere và cộng sự (2015), nhưng làm tăng trong kết quả của Guo và Ma (2015). Sở hữu nước ngoài góp phần kiểm soát hành vi quản trị lợi nhuận theo Kim (2008), Jun Guo và cộng sự (2014), Guo và Ma (2015), Nguyễn Hà Linh (2017). Sở hữu tổ chức giúp tăng cường giám sát theo Velury và Jenkins (2006), Hashim và Devi (2012), nhưng lại khuyến khích can thiệp lợi nhuận theo Chekili (2012), Masmoudi và cộng sự (2014). Sở hữu tập trung làm giảm quản trị lợi nhuận theo Jung và Kwon (2002), Alves (2012), nhưng tạo nguy cơ xâm phạm quyền lợi cổ đông thiểu số theo Fan và Wong (2002).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:

  1. Luận án thực hiện nghiên cứu kết hợp đồng thời cả hai hình thức: quản trị lợi nhuận thông qua các khoản dồn tích và quản trị lợi nhuận thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, giải quyết thực trạng các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chỉ đo lường đơn lẻ hình thức dồn tích.
  2. Luận án đưa các biến đại diện cho Ban kiểm soát (quy mô Ban kiểm soát, tỷ lệ thành viên có chuyên môn tài chính, tỷ lệ thành viên nữ) vào mô hình thực nghiệm để phản ánh đúng cấu trúc quản trị công ty tại các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam.
Hướng nghiên cứu Tác giả tiêu biểu Mô hình / Nội dung trọng tâm
Đo lường dồn tích (A_EM) Healy (1985), DeAngelo (1986), Jones (1991), Dechow và cs (1995), Kothari và cs (2005) Tách dồn tích bất thường từ tổng biến dồn tích qua doanh thu, tài sản cố định và biến kiểm soát ROA
Đo lường qua nghiệp vụ thực tế (R_EM) Roychowdhury (2006), Gunny (2010) Đo lường mức bất thường của dòng tiền hoạt động, chi phí sản xuất và chi phí tùy biến
Kiểm định tại Việt Nam Nguyễn Anh Hiền và cs (2015), Võ Thị Quý và cs (2017), Phạm Thị Bích Vân (2012) Xác định mô hình Kothari et al. (2005) tương thích tốt nhất với số liệu niêm yết tại Việt Nam
Nhân tố tác động Xie và cs (2003), Alves (2012), Abbadi và cs (2016), Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) Phân tích cấu trúc HĐQT, chất lượng kiểm toán độc lập, sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng lập luận dựa trên năm lý thuyết nền tảng:

  • Lý thuyết đại diện (Agency Theory): Đề cập đến xung đột lợi ích giữa người ủy quyền (cổ đông) và người thừa hành (người quản lý). Khi người quản lý hành động vì lợi ích cá nhân, sự bất cân xứng thông tin tạo điều kiện để họ thực hiện hành vi can thiệp vào các chỉ tiêu báo cáo tài chính nhằm tối đa hóa thù lao hoặc bảo vệ vị trí quản lý (Jensen và Meckling, 1976).
  • Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory): Doanh nghiệp chịu sự giám sát từ nhiều nhóm đối tượng có lợi ích liên quan bao gồm cổ đông, chủ nợ, người lao động, khách hàng và cơ quan quản lý nhà nước. Người quản lý có xu hướng điều chỉnh số liệu lợi nhuận nhằm đáp ứng kỳ vọng của các bên hoặc giảm thiểu áp lực giám sát từ bên ngoài.
  • Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependence Theory): Xem Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát là nguồn lực mang lại kiến thức, kinh nghiệm, thông tin và mối liên kết bên ngoài giúp doanh nghiệp vận hành hiệu quả và tăng cường năng lực giám sát quy trình kế toán.
  • Lý thuyết kế toán thực chứng (Positive Accounting Theory): Giải thích hành vi lựa chọn các chính sách và ước tính kế toán của nhà quản lý thông qua ba giả thuyết cơ bản: giả thuyết kế hoạch thưởng, giả thuyết nợ và giả thuyết chi phí chính trị (Watts và Zimmerman, 1986).
  • Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory): Doanh nghiệp sử dụng chất lượng kiểm toán độc lập cao (nhóm Big 4) và cấu trúc quản trị chuẩn mực nhằm truyền tải tín hiệu minh bạch đến thị trường chứng khoán, giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin.

Về khái niệm và kỹ thuật quản trị lợi nhuận:

  • Khái niệm: Luận án tiếp cận định nghĩa của Healy và Wahlen (1999), theo đó hành vi quản trị lợi nhuận xảy ra khi người quản lý sử dụng các xét đoán trong việc lập báo cáo tài chính và cấu trúc các giao dịch nhằm làm thay đổi báo cáo tài chính, từ đó làm sai lệch sự hiểu biết của các bên liên quan về hiệu quả kinh tế hoặc nhằm tác động đến các kết quả hợp đồng dựa trên các con số kế toán.
  • Kỹ thuật dồn tích (A_EM): Tác động vào các khoản dồn tích có thể điều chỉnh mà không làm ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền, như việc thay đổi thời gian khấu hao tài sản cố định, trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi.
  • Kỹ thuật nghiệp vụ kinh tế phát sinh (R_EM): Tác động trực tiếp vào các hoạt động thực tế phát sinh trong kỳ kinh doanh như giảm giá niêm yết để tăng doanh số bán hàng tạm thời, gia tăng sản xuất vượt nhu cầu để phân bổ chi phí cố định làm giảm giá thành đơn vị, cắt giảm các khoản chi phí tùy biến như chi phí nghiên cứu và phát triển, đào tạo, quảng cáo.

Về phương pháp nghiên cứu: Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, trong đó phương pháp định lượng giữ vai trò trọng tâm.

  • Nghiên cứu định tính: Tác giả thực hiện phỏng vấn chuyên sâu với các chuyên gia bao gồm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, kế toán trưởng tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và kiểm toán viên thuộc nhóm Big 4. Tiêu chuẩn chọn chuyên gia là có trình độ chuyên môn từ cử nhân trở lên và có thời gian công tác tối thiểu 5 năm, nhằm tham vấn ý kiến và hoàn thiện danh mục các biến nhân tố đưa vào mô hình hồi quy.
  • Nghiên cứu định lượng:
    • Đo lường biến phụ thuộc A_EM (Quản trị lợi nhuận thông qua các khoản dồn tích): Ứng dụng mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005) để xác định biến dồn tích bất thường từ phần dư của phương trình: $$TA_{it}/A_{it-1} = \alpha (1/A_{it-1}) + \beta_1 (\Delta REV_{it} - \Delta AR_{it})/A_{it-1} + \beta_2 PPE_{it}/A_{it-1} + \beta_3 ROA_{it-1} + \varepsilon_{it}$$ Trong đó: $TA_{it}$ là tổng biến dồn tích (tính bằng Lợi nhuận sau thuế trừ Dòng tiền hoạt động kinh doanh); $A_{it-1}$ là tổng tài sản năm trước; $\Delta REV_{it}$ là biến động doanh thu; $\Delta AR_{it}$ là biến động nợ phải thu; $PPE_{it}$ là nguyên giá tài sản cố định hữu hình; $ROA_{it-1}$ là tỷ suất sinh lời trên tài sản năm trước.
    • Đo lường biến phụ thuộc R_EM (Quản trị lợi nhuận thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh): Ứng dụng mô hình Roychowdhury (2006) để ước lượng mức bình thường của dòng tiền hoạt động ($CFO$), chi phí sản xuất ($PROD = COGS + \Delta INV$) và chi phí tùy biến ($DiscEXP$). Biến tổng hợp $R_EM$ được xác định theo công thức: $$R_EM = Ab_CFO \times (-1) + Ab_PROD + Ab_DiscEXP \times (-1)$$
    • Kỹ thuật phân tích: Sử dụng phương pháp hồi quy đa biến dữ liệu bảng (Panel data) trên phần mềm phân tích thống kê Stata phiên bản 13.0. Luận án tiến hành kiểm định các khuyết tật của mô hình hồi quy bao gồm hiện tượng đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi và tự tương quan để lựa chọn phương pháp ước lượng phù hợp.

Nội dung chính theo từng chương

Phần mở đầu

Phần mở đầu nêu rõ vai trò của thông tin lợi nhuận trên báo cáo tài chính đối với các quyết định kinh tế của các bên liên quan và rủi ro từ các hành vi điều chỉnh lợi nhuận của người quản lý doanh nghiệp. Tác giả xác lập hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể, hai câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu tại hai sàn HOSE và HNX giai đoạn 2010 - 2016 đối với các công ty phi tài chính, giới thiệu phương pháp nghiên cứu hỗn hợp và tóm tắt kết cấu năm chương của luận án.

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài theo ba nội dung chính:

  • Tổng hợp các mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích (Healy 1985, DeAngelo 1986, Jones 1991, Dechow và cộng sự 1995, Kothari và cộng sự 2005, Yoon và cộng sự 2006, Raman và Shahrur 2008) và các mô hình dựa trên nghiệp vụ kinh tế phát sinh (Roychowdhury 2006, Gunny 2010).
  • Tổng hợp các công trình kiểm định sự tương thích của mô hình tại các thị trường tài chính, đặc biệt là các nghiên cứu tại Việt Nam của Nguyễn Anh Hiền và Phạm Thanh Trung (2015), Võ Thị Quý và Dương Trọng Nhân (2017), Phạm Thị Bích Vân (2012, 2013).
  • Điểm luận các nghiên cứu về các nhóm nhân tố tác động: Hội đồng quản trị (kiêm nhiệm CEO, tính độc lập, quy mô, số lần họp, chuyên môn tài chính, tỷ lệ nữ), Ủy ban kiểm toán, Kiểm toán độc lập (Big 4, luân chuyển kiểm toán, phí kiểm toán), và Cấu trúc sở hữu vốn (sở hữu quản lý, sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, sở hữu tổ chức, sở hữu tập trung).
  • Xác định hai khe hổng nghiên cứu về việc thiếu vắng nghiên cứu đồng thời hai phương thức can thiệp lợi nhuận và thiếu vắng biến số đại diện cho Ban kiểm soát tại thị trường Việt Nam.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 2 làm rõ nền tảng lý thuyết phục vụ cho việc hình thành khung phân tích và giải thích kết quả nghiên cứu:

  • Trình bày các định nghĩa quản trị lợi nhuận của Schipper (1989), Smith (1993), Healy và Wahlen (1999); phân biệt rõ quản trị lợi nhuận hợp pháp với gian lận báo cáo tài chính.
  • Phân tích chi tiết các kỹ thuật can thiệp dồn tích và kỹ thuật can thiệp vào các hoạt động thực tế của doanh nghiệp.
  • Trình bày nội dung, nguyên lý vận hành của năm lý thuyết nền tảng: Lý thuyết đại diện, Lý thuyết các bên liên quan, Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, Lý thuyết kế toán thực chứng và Lý thuyết tín hiệu; thiết lập mối liên hệ giữa các lý thuyết này với hành vi công bố thông tin kế toán.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 thiết lập quy trình nghiên cứu thực nghiệm và xây dựng hai mô hình hồi quy:

  • Quy trình nghiên cứu gồm: nghiên cứu định tính (phỏng vấn chuyên gia HĐQT, BKS, kế toán trưởng, kiểm toán Big 4) để sàng lọc biến và nghiên cứu định lượng.
  • Thiết kế phương trình xác định biến phụ thuộc: Mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005) đối với biến $A_EM$ và mô hình Roychowdhury (2006) đối với biến $R_EM$. Bảng kiểm định sự phù hợp của mô hình Roychowdhury (2006) và bảng kết quả hồi quy các hệ số $\alpha, \beta$ để tính toán các giá trị bất thường.
  • Thiết lập hệ thống giả thuyết nghiên cứu và danh mục biến độc lập (Bảng 3.6):
    • Nhóm biến Hội đồng quản trị: Tỷ lệ kiêm nhiệm Chủ tịch và CEO, tỷ lệ thành viên độc lập, quy mô HĐQT, số lần họp HĐQT, chuyên môn tài chính HĐQT, tỷ lệ nữ trong HĐQT.
    • Nhóm biến Ban kiểm soát: Quy mô Ban kiểm soát, tỷ lệ thành viên Ban kiểm soát có chuyên môn tài chính, tỷ lệ thành viên nữ trong Ban kiểm soát.
    • Nhóm biến Kiểm toán độc lập: Công ty kiểm toán thuộc nhóm Big 4.
    • Nhóm biến Cấu trúc sở hữu: Tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, tỷ lệ sở hữu tổ chức, tỷ lệ sở hữu tập trung.
    • Nhóm biến kiểm soát: Quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, hiệu quả kinh doanh.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 4 công bố toàn bộ kết quả phân tích thống kê và kiểm định thực nghiệm:

  • Đánh giá thực trạng mức độ quản trị lợi nhuận tại các công ty niêm yết: Thống kê mô tả biến $A_EM$ và $R_EM$ theo các giá trị đại số, giá trị tuyệt đối, giá trị dương và giá trị âm theo từng năm từ 2010 đến 2016 và theo từng nhóm ngành nghề kinh doanh (Bảng 4.1 đến Bảng 4.10).
  • Kết quả nghiên cứu định tính: Xác nhận tính phù hợp của danh mục biến độc lập trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Kết quả nghiên cứu định lượng:
    • Báo cáo thống kê mô tả các biến định tính và biến định lượng (Bảng 4.11 và Bảng 4.12).
    • Ma trận hệ số tương quan Pearson cho hai mô hình nghiên cứu (Bảng 4.13 và Bảng 4.14).
    • Báo cáo kết quả hồi quy mô hình 1 (biến phụ thuộc $A_EM$) và mô hình 2 (biến phụ thuộc $R_EM$) cùng các bảng kiểm định khuyết tật mô hình (Bảng 4.15 đến Bảng 4.18) và bảng tổng kết kết quả hồi quy hai mô hình (Bảng 4.19).
  • Bàn luận kết quả nghiên cứu: Phân tích sâu mức độ ủng hộ hoặc bác bỏ giả thuyết dựa trên các cơ sở lý thuyết nền tảng theo 5 nhóm: Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Kiểm toán độc lập, Cấu trúc sở hữu vốn và cơ cấu vốn, Quy mô và hiệu quả kinh doanh.

Chương 5: Nhận xét và kiến nghị

Chương 5 đúc kết các phát hiện nghiên cứu và đưa ra hàm ý chính sách:

  • Nêu nhận xét khái quát về thực trạng và các nhân tố chi phối hành vi quản trị lợi nhuận của người quản lý tại các công ty niêm yết.
  • Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị chính sách cụ thể dành cho các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước), ban lãnh đạo các công ty niêm yết và các bên có quyền lợi liên quan như nhà đầu tư và chủ nợ.
  • Trình bày các hạn chế của đề tài và định hướng các nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt học thuật và lý luận, luận án có những đóng góp mới cụ thể:

  • Luận án hệ thống hóa một cách toàn diện các lý thuyết nền tảng (lý thuyết đại diện, lý thuyết các bên liên quan, lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, lý thuyết kế toán thực chứng, lý thuyết tín hiệu) trong việc giải thích bản chất và động cơ của hành vi quản trị lợi nhuận.
  • Luận án là một trong những công trình thực nghiệm tại Việt Nam xem xét đồng thời cả hai phương thức quản trị lợi nhuận: quản trị lợi nhuận thông qua các khoản dồn tích ($A_EM$) bằng mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005) và quản trị lợi nhuận thông qua việc can thiệp vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ($R_EM$) bằng mô hình Roychowdhury (2006). Điều này cung cấp bức tranh toàn diện hơn về sự đánh đổi hoặc kết hợp giữa các công cụ can thiệp lợi nhuận của nhà quản lý.
  • Luận án đưa các biến số đại diện cho Ban kiểm soát (quy mô Ban kiểm soát, tỷ lệ thành viên có chuyên môn tài chính, tỷ lệ nữ trong Ban kiểm soát) vào mô hình thực nghiệm, bổ sung bằng chứng khoa học về vai trò kiểm soát nội bộ theo cơ chế quản trị công ty hai tầng đặc thù tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp các căn cứ để đề xuất các giải pháp:

  • Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước): Cung cấp bằng chứng thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về công bố thông tin, ban hành các quy định chặt chẽ hơn về trách nhiệm, tính độc lập và tiêu chuẩn chuyên môn của các thành viên trong Ban kiểm soát và Hội đồng quản trị tại các công ty niêm yết.
  • Đối với các công ty niêm yết: Cung cấp cơ sở giúp các doanh nghiệp tự đánh giá và kiện toàn hệ thống quản trị nội bộ; cân đối cơ cấu Hội đồng quản trị, nâng cao năng lực chuyên môn tài chính của Ban kiểm soát và duy trì tính độc lập trong kiểm soát nhằm nâng cao độ tin cậy của báo cáo tài chính.
  • Đối với các nhà đầu tư và chủ nợ: Cung cấp nhận thức và công cụ nhận diện các dấu hiệu bất thường trên báo cáo tài chính không chỉ ở các chỉ tiêu kế toán dồn tích mà còn ở sự biến động bất thường của dòng tiền kinh doanh và chi phí sản xuất, từ đó nâng cao chất lượng thẩm định và ra quyết định đầu tư, cấp tín dụng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế nghiên cứu, văn bản luận án xác định các điểm giới hạn sau:

  • Phạm vi dữ liệu chỉ khảo sát các công ty phi tài chính niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX; không bao gồm các doanh nghiệp đại chúng giao dịch trên sàn UPCOM cũng như các doanh nghiệp chưa niêm yết.
  • Mẫu nghiên cứu loại trừ toàn bộ các tổ chức tài chính bao gồm ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm và các quỹ đầu tư do sự khác biệt căn bản về đặc điểm kinh doanh và cấu trúc báo cáo tài chính.
  • Khung thời gian dữ liệu dừng lại ở giai đoạn 2010 – 2016, chưa cập nhật sự biến động của thị trường chứng khoán và các điều chỉnh trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật sau năm 2016.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng mẫu nghiên cứu sang các công ty đại chúng giao dịch trên sàn UPCOM hoặc các công ty chưa niêm yết để so sánh mức độ can thiệp lợi nhuận giữa các khu vực thị trường.
  • Kéo dài chuỗi thời gian dữ liệu sang các giai đoạn tiếp theo để đánh giá tác động của các văn bản pháp luật mới về quản trị công ty và các chuẩn mực kế toán cập nhật.
  • Đi sâu nghiên cứu cơ chế chuyển đổi, thay thế linh hoạt giữa hành vi quản trị lợi nhuận dồn tích và quản trị lợi nhuận qua nghiệp vụ thực tế khi có sự thay đổi về môi trường pháp lý hoặc chi phí thực hiện.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán và Tài chính: Là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu hỗn hợp trong kế toán thực chứng; quy trình bóc tách biến dồn tích bất thường theo Kothari et al. (2005) và biến nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo Roychowdhury (2006); cũng như phương pháp xử lý dữ liệu bảng bằng phần mềm Stata 13.0.
  • Các nhà hoạch định chính sách tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và các Sở Giao dịch Chứng khoán: Tham khảo phần tổng quan tài liệu và kết quả bàn luận về Ban kiểm soát để xây dựng các quy chế quản trị công ty phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
  • Chuyên viên phân tích tài chính, nhà đầu tư và kiểm toán viên: Tham khảo các kỹ thuật và mô hình nhận diện dòng tiền bất thường, chi phí sản xuất bất thường để phát hiện sớm các rủi ro làm đẹp số liệu trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án sử dụng những mô hình nào để đo lường hai hình thức quản trị lợi nhuận? Luận án sử dụng mô hình Kothari, Leone và Wasley (2005) (phát triển từ mô hình Jones điều chỉnh có bổ sung biến tỷ suất sinh lời trên tài sản $ROA_{t-1}$) để đo lường quản trị lợi nhuận qua các khoản dồn tích ($A_EM$). Để đo lường quản trị lợi nhuận thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ($R_EM$), luận án sử dụng mô hình Roychowdhury (2006) kết hợp ba chỉ tiêu bất thường gồm dòng tiền hoạt động bất thường ($Ab_CFO$), chi phí sản xuất bất thường ($Ab_PROD$) và chi phí tùy biến bất thường ($Ab_DiscEXP$).

  2. Vì sao tác giả đưa các nhân tố thuộc Ban kiểm soát vào mô hình nghiên cứu? Tại Việt Nam, cấu trúc quản trị của đa số các công ty niêm yết được tổ chức theo mô hình hai tầng với Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Ban Giám đốc; Ban kiểm soát hoạt động độc lập và chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông. Cơ chế này khác biệt so với mô hình Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị tại các nước phát triển. Do đó, việc nghiên cứu các đặc điểm của Ban kiểm soát (quy mô, chuyên môn tài chính, tỷ lệ nữ) là cần thiết để phản ánh chính xác thực tế quản trị công ty tại Việt Nam.

  3. Mẫu dữ liệu của luận án được chọn lọc trên những tiêu chí nào? Luận án thu thập dữ liệu báo cáo thường niên từ các công ty niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX trong giai đoạn 2010 – 2016. Luận án loại trừ các công ty giao dịch trên sàn UPCOM và loại bỏ hoàn toàn các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành tài chính đặc thù như ngân hàng thương mại, bảo hiểm, công ty chứng khoán và các quỹ đầu tư. Dữ liệu được trích xuất thủ công từ báo cáo tài chính, báo cáo quản trị và cơ sở dữ liệu của Vietstock.

  4. Sự khác nhau giữa kỹ thuật can thiệp dồn tích và can thiệp nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong luận án là gì? Quản trị lợi nhuận qua khoản dồn tích ($A_EM$) là việc vận dụng linh hoạt các ước tính và chính sách kế toán (như thời gian khấu hao, lập dự phòng nợ xấu, dự phòng hàng tồn kho) làm biến đổi lợi nhuận trên sổ sách mà không tác động trực tiếp đến dòng tiền thực thu, thực chi trong kỳ. Ngược lại, quản trị lợi nhuận qua nghiệp vụ kinh tế phát sinh ($R_EM$) là việc nhà quản lý trực tiếp can thiệp vào các hoạt động vận hành thực tế (như giảm giá bán để đẩy mạnh doanh số tức thời, tăng sản xuất vượt mức để giảm giá thành đơn vị, cắt giảm chi phí quảng cáo, đào tạo hoặc nghiên cứu phát triển), dẫn đến sự biến đổi trực tiếp của dòng tiền kinh doanh hiện tại và hiệu quả hoạt động tương lai.

  5. Những lý thuyết nền tảng nào được luận án sử dụng để xây dựng khung phân tích? Luận án sử dụng năm lý thuyết nền tảng gồm: Lý thuyết đại diện (Agency Theory), Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory), Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependence Theory), Lý thuyết kế toán thực chứng (Positive Accounting Theory) và Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Hoàng Điệp là công trình nghiên cứu học thuật thực chứng toàn diện về thực trạng và các nhân tố chi phối hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty niêm yết phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010 – 2016. Luận án đã giải quyết được khoảng trống nghiên cứu khi đo lường đồng thời cả hai hình thức can thiệp lợi nhuận thông qua khoản dồn tích ($A_EM$) và nghiệp vụ kinh tế phát sinh ($R_EM$), đồng thời tích hợp các biến số đặc thù của Ban kiểm soát vào mô hình thực nghiệm dữ liệu bảng trên phần mềm Stata 13.0. Kết quả của luận án cung cấp cơ sở khoa học giúp các cơ quan quản lý hoàn thiện chính sách giám sát và hỗ trợ các bên liên quan đánh giá khách quan độ tin cậy của thông tin lợi nhuận trên báo cáo tài chính.