Chương 1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Phân tích các nhân tố tác động đến sự thỏa mãn của người lao động tại công ty TNHH Hà Lan Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao sự thỏa mãn của người lao động tại công ty TNHH Hà Lan. Phần 3: Kết luận và kiến nghị 1. Kiến nghị 6 SVTH: Bùi Thị Tuyế t Sư ơ ng Khóa luậ n tố t nghiệ p GVHD: ThS. Hồ Sỹ Minh PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Khái niệm về nhu cầu và sự thỏa mãn 1.Khái niệm về nhu cầu Nhu cầu là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.
Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu cầu thiết yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa. Thể hiện bản thân ( Nhu cầu được thể hiện bản thân, muốn thành đạt, được công nhân,.
1 Nhu cầu 2 Nhu cầu được quý trọng ( được quý mến, tôn trọng, tin tưởng,.) bậc cao 3 Nhu cầu tình cảm ( gia đình, bạn bè, người yêu,.) Nhu cầu an toàn (sức khỏe, an toàn, bảo Nhu cầu 4 hiểm,.) bậc 5 Nhu cầu sinh lý ( ăn, uống, nơi ở, tình dục, thở,.) thấp (Nguồn: https://psychclassics.ca/Maslow/motivation.1: Tháp nhu cầu Maslow (1943) Tháp nhu cầu của Maslow (1943): Abraham Maslow cho rằng con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao khát được thỏa mãn. Maslow chia các nhu cầu đó thành 5 loại và sắp xếp theo một hệ thống bậc thang, kiểu hình kim tự tháp. Nhu cầu 7 SVTH: Bùi Thị Tuyế t Sư ơ ng Khóa luậ n tố t nghiệ p GVHD: ThS. Hồ Sỹ Minh bậc thấp gồm nhu cầu sinh lý và an toàn và cấp cao gồm nhu cầu tình cảm, được quý trong và nhu cầu thể hiện bản thân.
Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thỏa mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn. Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thỏa mãn ngày càng mãnh liệt khi các nhu cầu cơ bản ở dưới đã được đáp ứng đầy đủ. Các nhu cầu đó là: + Nhu cầu sinh lý: là những nhu cầu cơ bản nhằm đảm bảo sự tồn tại của con người như ăn, mặc, ở, duy trì nòi giống, v. + Nhu cầu an toàn: an toàn về sức khỏe, tính mạng, có công ăn việc làm ổn định, an ninh, luật lệ, v.
+ Nhu cầu tình cảm: nhu cầu giao tiếp, tham gia các hoạt động tập thể, các tổ chức, cộng đồng, tình cảm, tình yêu, bạn bè, v. + Được quý trọng: muốn được người khác tôn trọng, muốn có uy tính, tự hào bản thân, nhu cầu có địa vị trong xã hội, v. + Thể hiện bản thân: muốn được thử thách, rèn luyện để có sự công nhận của xã hội, muốn được tự chủ, cống hiến, sáng tạo v.Định nghĩa về mức độ thỏa mãn trong công việc Trên thế giới nói chung và nước Việt Nam nói riêng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về sự thỏa mãn và các nhân tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn trong công việc của người lao động tại nơi làm việc. Có nhiều định nghĩa về mức độ thỏa mãn đối với công việc.
Thỏa mãn trong công việc có thể đo lường ở mức độ chung, cũng có thể đo lường thỏa mãn với từng thành phần của công việc Định nghĩa về mức độ thỏa mãn chung trong công việc: Dormann và Zapf (2001) định nghĩa rằng: đó là thái độ thích thú nhất đối với lãnh đạo và đội ngũ lãnh đạo. Quinn và Staincs (1979) cho rằng thỏa mãn trong công việc là thái độ tích cực về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm vui và hành vi của người lao động. Theo Vroom (1964), thỏa mãn trong công việc là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức. Loeke (1976) cho rằng thỏa mãn trong công việc được hiểu là người lao động thực sự cảm thấy thích thú đối với công việc của họ.
8 SVTH: Bùi Thị Tuyế t Sư ơ ng Khóa luậ n tố t nghiệ p GVHD: ThS. Hồ Sỹ Minh Theo Smith, Kendal và Hulin (1969), mức độ thỏa mãn với các thành phần hay các khía cạnh của công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau của công việc: bản chất công việc, đào tạo và thăng tiến, cấp trên, đồng nghiệp và tiền lương của họ. Theo Spector (1997) sự thỏa mãn trong công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ như thế nào. Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biến về thái độ.
Theo Kreitner và Kinicki (2007) sự thỏa mãn công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình. Đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người nhân viên Theo Ellickson và Logsdon (2001) thì cho rằng sự thỏa mãn công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) vầ công việc hay môi trường làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì độ thỏa mãn công việc càng cao. Weiss (1967) định nghĩa rằng thỏa mãn trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động.
Tóm lại, đứng ở mỗi góc độ, khía cạnh khác nhau thì định nghĩa về sự thỏa mãn trong công việc cũng khác nhau. Nhưng nhìn chung thỏa mãn trong công việc là sự đánh giá, cảm nhận của người lao động về các vấn đề liên quan đến việc thực hiện công việc của họ. Họ bằng lòng với những gì họ có được, coi là đầy đủ rồi và không mong muốn gì hơn.Các học thuyết về tạo động lực trong lao động 1.Thuyế t nhu cầ u củ a Maslow (1943) về kỹ năng độ ng viên Như đã trình bày ở trên, thuyết nhu cầu của A. Maslow (1943) là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung.
Cho đến nay, chưa có thuyết nào thay thế tốt hơn thuyết này mặc dù cũng có khá nhiều “ứng cử viên” có ý định thay thế. Maslow (1943) chia nhu cầu con người thành 5 loại khác nhau và sắp xếp theo thứ bậc từ “đáy” lên tới “đỉnh”, phản ánh mức độ cơ bản của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội. 9 SVTH: Bùi Thị Tuyế t Sư ơ ng Khóa luậ n tố t nghiệ p GVHD: ThS. Hồ Sỹ Minh Và học thuyết của Maslow (1943) về kỹ năng động viên cho rằng: Khi mỗi một nhu cầu trong số các nhu cầu được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng.
Sự thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân sẽ theo thứ bậc và mặc dù không có một nhu cầu nào có thể thỏa mãn hoàn toàn, nhưng một nhu cầu được thỏa mãn về cơ bản thì không còn tạo ra động lực. Vì vậy, theo Maslow, để tạo động lực cho nhân viên, người quản lý trước hết phải quan tâm đến việc tạo điều kiện để mọi người thỏa mãn các nhu cầu cấp thấp. Khi các nhu cầu cấp thấp được thỏa mãn đến một mức độ nhất định, các nhu cầu cấp cao mới trở thành động cơ. Và nhà quản lý phải nắm được nhân viên mình họ đang ở bậc nhu cầu nào và hướng vào sự thỏa mãn các nhu cầu ở bậc đó.
Đây là lý thuyết về nhu cầu của con người và nó được xem xét và ứng dụng trong nghiên cứa này vì chỉ khi nào các nhu cầu của người lao động được đáp ứng thì họ mới có thể có sự thỏa mãn trong công việc. Các nhu cầu trong lý thuyết này đều được đề cập dưới dạng các biến khác nhau. Ví dụ như sự thỏa mãn về nhu cầu sinh lý và an toàn có thể được thể hiện ở các biến đo lường sự thỏa mãn về nhu cầu sinh lý và an toàn có thể được thể hiện ở các biến đo lường sự thỏa mãn về thu nhập và phúc lợi Công ty. Tương tự, sự thỏa mãn về nhu cầu xã hội và tự trọng được thể hiện ở các biến thể hiện sự thỏa mãn về mối quan hệ với cấp trên và với đồng nghiệp cũng như biến thể hiện quyền tự chủ nhất định trong thực hiện công việc.Thuyế t Kì vọ ng củ a Victor H.
Vroom (1964) Lý thuyết này cho rằng, con người lựa chọn một trong số nhiều hành động tùy vào sự kỳ vọng về những kết quả mong muốn mà hành động đó mang lại. Một người sẽ được thúc đẩy để nâng cao thành tích nếu người đó nhận thức được rằng bản thân có khả năng thực hiện hành vi mong muốn, tin tưởng thành tích sẽ đem lại kết quả nào đó và họ sẽ được đánh giá cao dựa trên kết quả đó. Khác với Maslow và Herzberg, Vroom không tập trung vào nhu cầu của con người mà tập trung vào kết quả. Lý thuyết này xoay quanh ba khái niệm cơ bản: - Expectancy (kỳ vọng): là niềm tin rằng nổ lực sẽ dẫn đến kết quả tốt - Instrumentality (tính chất công cụ): là niềm tin rằng kết quả tốt sẽ dẫn đến phần thưởng xứng đáng.
10 SVTH: Bùi Thị Tuyế t Sư ơ ng Khóa luậ n tố t nghiệ p GVHD: ThS. Hồ Sỹ Minh - Valence (hóa trị): là mức độ quan trọng của phần thưởng đối với người thực hiện công việc. Vroom cho rằng khi nhận thức của người lao động về ba khái niệm hay ba mối quan hệ trên là tích cực thì người lao động được động viên trong khi làm việc. Có thể nghĩ theo cách khác là họ tin rằng nổ lực của họ sẽ có kết quả tốt hơn, kết quả đó sẽ dẫn đến phần thưởng xứng đáng và phần thưởng đó có ý nghĩa và phù hợp với mục tiêu cá nhân họ.