CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về sự hài lòng (thoả mãn) của người lao động Khái niệm về sự hài lòng công việc được phát triển lần đầu tiên vào cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930 bởi Elton Mayo tại nhà máy Hawthorne của Công ty Điện lực Miền Tây - Chicago. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng cảm xúc của người lao động có thể ảnh hưởng đến hành vi làm việc của họ.
Các mối quan hệ xã hội và yếu tố tâm lý chính là nguyên nhân của sự hài lòng công việc và năng suất làm việc của nhân viên (Robbins, năm 2002). Sự thoả mãn công việc của nhân viên được định nghĩa và đo lường theo cả hai khía cạnh: thoả mãn nói chung đối với công việc và thoả mãn theo các yếu tố thành phần của công việc. Thoả mãn chung thể hiện cảm xúc bao hàm chung lên tất cả các khía cạnh của công việc. Một quan điểm khác coi sự hài lòng với công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc của họ (Smith et al, 1969).
Cả hai cách tiếp cận đều phù hợp cho việc đo lường mức độ thoả mãn của nhân viên trong công việc. Mức độ thoả mãn chung trong công việc Theo Spector (1997) sự thỏa mãn công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc và các khía cạnh công việc của họ như thế nào. Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biến về thái độ. Theo Kreitner và Kinicki (2007), sự thỏa mãn công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình.
Đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người nhân viên đó đối với công việc của mình. Luan van 9 Còn Ellickson và Logsdon (2001) thì cho rằng sự thỏa mãn công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì độ thỏa mãn công việc càng cao. Theo Vroom (1964) thoả mãn công việc là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức.
Locke (1976) thì cho rằng thoã mãn công việc được hiểu là người lao động thực sự cảm thấy thích thú với công việc của họ. Weiss (1967) định nghĩa rằng thoã mãn công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động. Locke (trích dẫn trong Sempane et al, 2002. 23) định nghĩa sự hài lòng công việc là "một trạng thái cảm xúc thú vị hoặc tích cực từ việc đánh giá công việc hoặc kinh nghiệm làm việc của một ai đó.
Sự hài lòng công việc có thể được xem như một quan sát của nhân viên về cách mà công việc thể hiện những điều quan trọng đối với họ. Hoặc đơn giản, "sự hài lòng công việc là thái độ của mọi người có về công việc của họ" (Chelladurai, 1999). Balzer (1997, Tr 10) xác định sự hài lòng công việc là ". những cảm xúc của một công nhân có về công việc hoặc kinh nghiệm công việc của mình liên quan đến kinh nghiệm trước đây, kỳ vọng hiện tại, hoặc các lựa chọn thay thế có sẵn.
Mức độ thoả mãn chung với các thành phần trong công việc Theo Smith, Kendal và Hulin (1969), mức độ thoả mãn với các thành phần hay khía cạnh của công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau của nhân viên về các khía cạnh khác nhau Luan van 10 trong công việc: bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, tiền lương, đồng nghiệp, giám sát. Schemerhon (1993, được trích dẫn bởi Luddy, 2005) định nghĩa sự thỏa mãn công việc như là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau về công việc của nhân viên. Tác giả nhấn mạnh các nguyên nhân của sự thỏa mãn công việc bao gồm vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ, và các phần thưởng gồm thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cũng như cơ cấu của tổ chức. Theo quan điểm của Buitendach và Witte (2005) cho rằng sự hài lòng công việc liên quan đến nhận thức và đánh giá của mỗi cá nhân về công việc, và nhận thức này lần lượt ảnh hưởng bởi hoàn cảnh của họ, bao gồm cả nhu cầu, giá trị và kỳ vọng.
Do đó, mỗi cá nhân đánh giá công việc của họ trên cơ sở các yếu tố mà họ coi là quan trọng đối với họ (Sempane, Rieger & Roodt, 2002). Như vậy, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về sự thỏa mãn công việc nhưng chúng ta có thể rút ra được rằng một người được xem là có sự thỏa mãn công việc thì người đó sẽ có cảm giác thoái mái, dễ chịu đối với công việc của mình. Liên quan đến nguyên nhân nào dẫn đến sự thỏa mãn công việc thì mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn, lý giải riêng qua các công trình nghiên cứu của họ. Phần tiếp theo sẽ đề cập đến các lý thuyết cùng với các nghiên cứu thực tiễn liên quan đến sự thỏa mãn công việc.
Lý thuyết liên quan đến sự thỏa mãn công việc a. Lý thuyết hai nhân tố của Herzberg [14] Năm 1959, F.Herzberg và các đồng nghiệp của mình, sau khi thực hiện các cuộc phỏng vấn với những người kỹ sư và kế toán của ngành công nghiệp khác nhau và đã rút ra nhiều kết luận rất bổ ích. Sau khi tổng hợp phân tích Luan van 11 kết quả điều tra, ông phát hiện rằng những nhân tố khiến họ bất mãn thường là nhân tố bên ngoài công việc, đại đa số những nhân tố có liên quan đến điều kiện làm việc và môi trường làm việc của họ. Còn những nhân tố khiến họ hài lòng thường là nhân tố bên trong của công việc, do bản thân công việc quyết định.
Ông cho rằng những nhân tố ảnh hưởng tới hành vi con người chủ yếu có hai loại: nhân tố duy trì và nhân tố tạo động lực thúc đẩy. Nhân tố duy trì gồm sự quản lý của cấp trên, tiền lương, phúc lợi, sự giám sát, môi trường làm việc, chính sách của công ty, cuộc sống cá nhân, sự ổn định công việc, mối quan hệ với đồng nghiệp. Đây được xem là nguồn gốc của sự bất mãn. Những nhân tố duy trì nếu xử lý không tốt có thể gây ra sự bất mãn đối với công việc.
Tuy nhiên, khi những nhu cầu duy trì được thoã mãn, thì kết quả không nhất thiết là họ hài lòng với công việc. Những nhân tố này không thể có tác dụng khích lệ, chỉ có thể có tác dụng duy trì tính tích cực và tác dụng của nó đối với công việc ở mức hiện trạng. Do đó nhân tố này được gọi là “nhân tố duy trì”. Nhân tố thúc đẩy: gồm trách nhiệm, sự công nhận, cơ hội phát triển, và các khía cạch khác của công việc.
Bởi vì những yếu tố này đại diện cho nguồn gốc của sự hài lòng, nên chúng được gọi là nhân tố thúc đẩy. Nếu việc xử lý các nhân tố thúc đẩy diễn ra thỏa đáng thì có thể làm cho người ta sản sinh tâm lý hài lòng. Nếu xử lý không thỏa đáng thì hiệu quả bất lợi của nó cùng lắm chỉ là không thể tạo ra tâm lý hài lòng, chứ không tạo ra tâm lý bất mãn. Lý thuyết Herberg không coi sự hài lòng công việc như một thể liên tục với một đầu là hài lòng và đầu kia là bất mãn mà coi chúng là hai loại tách biệt.
Các yếu tố duy trì mà thuận lợi thì người lao động sẽ không bất mãn, nhưng không nhất thiết hài lòng. Để hài lòng, người lao động phải được trải nghiệm các cơ hội phát triển và sự thừa nhận. Luan van 12 HÀI LÒNG Trách nhiệm Công nhận Các yếu tố Thăng tiến thúc đẩy Thành tựu Bản chất công việc KHÔNG HÀI LÒNG CÂN BẰNG KHÔNG BẤT MÃN - Cấp trên - Lương - Môi trường làm việc, cuộc Các yếu tố duy trì sống cá nhân và an toàn công việc - Chính sách - Quan hệ với đồng nghiệp BẤT MÃN Hình 1. Mô hình Lý thuyết hai nhân tố của Herzberg * Các nhân tố thúc đẩy - Trách nhiệm: liên quan đến quyền mà một người được giao để thực hiện công việc mà không cần giám sát.
Nhân viên sẽ có động lực hơn nếu họ cảm thấy có trách nhiệm đối với công việc của họ. Nhân viên cần tự do và quyền lực để thực hiện công việc. - Sự công nhận: là mức độ thừa nhận hoặc phê duyệt thành tích của người giám sát và những người khác. Định nghĩa này cũng bao gồm sự công nhận tiêu cực, chẳng hạn như chỉ trích hay khiển trách.
Herzberg (1966) lưu ý rằng nhân viên ở tất cả các cấp trong một tổ chức, muốn được công nhận cho những thành tựu của họ. Nếu nhà quản lý nhận thấy những nhân viên đang làm việc tốt, họ nên công khai công nhận và khen thưởng ngay lập tức. Việc cảm ơn nhân viên công khai vì đã xử lý một tình huống đặc biệt tốt cũng là một động lực thúc đẩy. Những lá thư khen ngợi, Luan van 13 tiền thưởng, các chương trình công nhận chính thức chẳng hạn như chương trình "Nhân viên của tháng" cũng được khuyến khích để tăng động lực.
- Thăng tiến: liên quan đến sự thăng chức của một nhân viên trong tổ chức. Nhân viên sẽ có động lực cao để làm công việc của họ nếu họ thấy trước một tương lai tốt đẹp tại công ty này. - Thành tựu là thái độ của nhân viên hướng đến thành công của một người bao gồm hoàn thành công việc, thẩm quyền trong việc giải quyết vấn đề, và kết quả công việc của một người. Hầu hết các nhân viên thực sự muốn làm một công việc mang tính thách thức khả năng của mình.
Nhân viên cần nhận được thông tin phản hồi thường xuyên và kịp thời về việc họ đang làm như thế nào. Để tăng sự hài lòng, nhà quản lý nên tạo cho nhân viên cảm thấy rằng họ đang được làm những công việc có tính thách thức.