CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ NHÂN TỐ CON NGƯỜI VÀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Cải cách hành chính nhà nước là một hoạt động xã hội. Đối tượng của nghiên cứu này là nhân tố con người trong cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Song trước khi nói đến vấn đề cụ thể nêu trên, cần phải làm sáng tỏ vấn đề nhân tố con người và hoạt động khẳng định vai trò trung tâm của nhân tố này trong xã hội. Vai trò của nhân tố con người đối với hệ thống xã hội 1.
Con người - nhân tố quyết định hợp thành hệ thống xã hội Lịch sử phát triển của khoa học đã thừa nhận: triết học là khoa học đầu tiên nghiên cứu về các hệ thống. Trong nền triết học cổ đại Hy Lạp, Arixtốt đã nghiên cứu khái niệm hệ thống mà về sau Kant và Hêghen phát triển. Đến giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác đã trình bày đầy đủ những nguyên tắc nhận thức khoa học đối với các hệ thống phát triển hoàn chỉnh. Theo đó, bất kỳ một khách thể nào trong thế giới hiện thực cũng là một hệ thống, nghĩa là nó bao gồm những bộ phận, những yếu tố cấu thành.
Xã hội cũng chính là một hệ thống. Xã hội cũng có những đặc trưng cơ bản của hệ thống như: (l) gắn liền với một hình thức tổ chức nhất định. (2) bao gồm nhiều tiểu hệ, nhiều yếu tố. Mỗi tiểu hệ, mỗi yếu tố ấy vừa là một thành tố của hệ thống lớn hơn, vừa là một hệ thống của những yếu tố thấp hơn.
(3) Mỗi kết cấu thứ bậc trong hệ thống (tiểu hệ) quy định các phương thức hoạt động riêng của nó, còn sự hoạt động của toàn xã hội là kết quả của sự tác động qua lại giữa các mặt, các kết cấu thứ bậc hợp thành. Xã hội với tính cách là một hệ thống chỉnh thể có những thuộc tính mới, chất lượng mới, những cái vốn không có ở các yếu tố và các bộ phận hợp thành. Ngoài ra, hệ thống xã hội còn có một đặc trưng khác là tính tự điều chỉnh và điều khiển trên cơ sở thu thập, tàng trữ, chế biến và xử lý thông tin nhằm đạt đến những mục đích nhất định. 10 z Với tính chất như vậy, xã hội là một hệ thống cực kỳ phức tạp, được tạo thành bởi những tiểu hệ thống có trình độ phát triển và tổ chức khác nhau.
Các hệ thống cơ sở tạo thành tiểu hệ thống và toàn xã hội là: vật chất, các quá trình, tinh thần và con người. Các vật với tính cách là một thành tố của hệ thống xã hội, là những biểu hiện cụ thể của vật chất được đưa vào đời sống xã hội. Đó là toàn bộ những đối tượng của giới tự nhiên dưới sự tác động của con người đã trở thành giới “tự nhiên thứ hai”. Con người sử dụng “cái tự nhiên” này trong các hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội – chính trị và tinh thần.
Tuy nhiên, các đối tượng của tự nhiên thứ hai không vì thế mà mất đi bản chất khách quan của nó, vì tất cả các vật đó đều được tạo ra từ các chất của giới tự nhiên và theo những quy luật của sự phát triển vốn có của nó. Các vật đó dù được xem là những hiện tượng xã hội, tham gia vào quỹ đạo của đời sống xã hội nhưng không phải với tư cách tự thân mà luôn là những sản phẩm của lao động cụ thể, là những giá trị sử dụng cụ thể, ở trong sự liên hệ với hoạt động của con người và là phương tiện để thoả mãn các nhu cầu của con người. Như vậy, chỉ có gắn liền với hoạt động của con người, làm thoả mãn những nhu cầu của con người, các vật mới trở thành yếu tố hợp thành của hệ thống xã hội. Sự thống nhất giữa hai mặt tự nhiên và mặt xã hội trong một vật thể khẳng định nó đã qua thực tiễn hoạt động của con người.
Ngoài ra, trong những điều kiện của sản xuất hàng hoá, đồ vật đã trở thành một khách thể của sự sở hữu; lúc này đồ vật với tư cách là sản phẩm dùng để trao đổi thể hiện nhiều mặt tích cực, năng động với vai trò là chức năng của hệ thống xã hội, nó không chỉ đơn thuần là đồ vật với chức năng theo nghĩa đen nữa mà là một quan hệ xã hội nhằm quy định địa vị của một giai cấp hay một tập đoàn người này đối với một giai cấp hay một tập đoàn người khác trong việc tổ chức sản xuất cũng như phần tư liệu sinh hoạt nhận được. Cũng cần phải thấy rằng, con người cũng là một thực thể tự nhiên, là một vật có tính vật chất, con người là một sinh vật. Nhưng con người là một bộ 11 z phận, một yếu tố hợp thành của hệ thống xã hội hoàn chỉnh không phải ở cái bản chất sinh vật của nó, mà với tư cách là một động vật xã hội. Con người sinh học thì không cần sự thừa nhận, con người xã hội phải được sự thừa nhận của người khác [49, 27].
Khi nêu lên tính vật chất của các yếu tố hợp thành nhất định của chỉnh thể xã hội, cần phải thấy rằng các vật thể đều có một vị trí, đều mang một chức năng xã hội nhất định trong hệ thống phát triển hoàn chỉnh ấy. Những vật thể, nếu nằm ngoài mối liên hệ với con người, tức là không được đưa vào trong phạm vi của hoạt động xã hội, thì không phải là một bộ phận của cái chỉnh thể xã hội. Trong xã hội, các đồ vật với tư cách là yếu tố hợp thành xã hội không thể có một đời sống riêng tự chúng, tách khỏi con người nhận thức chúng, làm chủ chúng, sản xuất ra chúng và dùng chúng để thoả mãn nhu cầu của mình. Chức năng xã hội của các đối tượng vật chất nhất thiết phải được biểu hiện qua con người, qua các quan hệ giữa người với người.
Các quá trình xã hội – kinh tế, xã hội chính trị cũng tạo thành một nhóm yếu tố của hệ thống xã hội phát triển hoàn chỉnh. Các quá trình xã hội chính là sự thay thế nối tiếp nhau giữa các trạng thái của xã hội nói chung hoặc của các hệ thống con trong những khuôn khổ của nó. Quá trình này diễn ra dưới tác động của những điều kiện bên trong và bên ngoài, theo quy luật chung, có một trật tự và theo một chiều hướng nhất định. Các quá trình có thể là tiến bộ, trung hoà hay thoái bộ song mọi quá trình xã hội tất yếu phải gắn với hoạt động của con người, của các tập đoàn xã hội và của các giai cấp.
Tất cả các quá trình xã hội, xét đến cùng đều biểu hiện ra qua hoạt động của con người dù chúng tuân theo những quy luật khách quan [Xem: 2, 14 – 15]. Những yếu tố mang bản chất tinh thần – những tư tưởng xã hội cũng gia nhập và trở thành bộ phận cấu thành của hệ thống xã hội. Những tư tưởng xã hội, là những cái tồn tại không phải tự nó. Tư tưởng chính là cái hình thức phản ánh thế giới bên ngoài, trong đó bao hàm sự ý thức 12 z về mục đích và triển vọng của việc tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới bên ngoài; tư tưởng nhất thiết phải tồn tại trong những con người, trong ý thức của con người.
Tư tưởng khái quát hoá kinh nghiệm, tổng hợp sự phát triển tri thức trước đó và được dùng làm nguyên tắc để giải thích các hiện tượng. Tư tưởng được con người sáng tạo ra, tiếp thu và truyền bá. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì mọi tư tưởng đều bắt nguồn từ thực tiễn. Nhưng tư tưởng không chỉ đơn thuần là sự phản ánh thế giới khách quan, nó còn xác định con đường để cải tạo thế giới khách quan.
Chính con người được chỉ đạo bởi các tư tưởng trong các hoạt động của mình, trong các quan hệ của mình đối với các sự vật, với các quá trình xã hội và với nhau. Vì vậy, trong nội dung của bất kỳ tư tưởng nào cũng đều ẩn chứa đằng sau nó việc đề ra mục đích và quy định nhiệm vụ của hoạt động thực tiễn. Sự thể hiện tư tưởng vì thế bao giờ cũng bao hàm những lợi ích, những nhu cầu nhất định của con người tương ứng với những nhu cầu của hệ thống xã hội mà con người thuộc vào. Tuy nhiên, tư tưởng tự bản thân nó không thể có tác dụng gì tới hiện thực.Mác đã nhấn mạnh: “tư tưởng xưa nay, không thể đưa người ta vượt ra ngoài trật tự thế giới cũ được, trong bất cứ tình huống nào, tư tưởng cũng chỉ có thể đưa người ta vượt ra ngoài phạm vi tư tưởng của trật tự thế giới cũ mà thôi.
Thật vậy, tư tưởng căn bản không thể thực hiện được cái gì hết. Muốn thực hiện tư tưởng cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” [35, 181]. Trong xã hội hoàn toàn không phải lúc nào cũng có thể vạch rõ ranh giới giữa các yếu tố sự vật, quá trình, tinh thần và con người bởi mọi yếu tố của hệ thống xã hội bao giờ cũng đóng vai một quan hệ. Bất kỳ một sự vật, một đối tượng, một tư tưởng nào cũng đồng thời là một quá trình.
Nhưng bất kỳ yếu tố nào của hệ thống xã hội cũng đều gắn bó với con người, đều nói lên tính tích cực xã hội của con người. Do đó, con người được xem như là một thực thể xã hội, thành tố chủ yếu của bất kỳ hệ thống thực thể xã hội khác. Con người đóng vai trò quyết định trong cấu trúc, trong tổ chức nội bộ của hệ thống xã hội, mà xã hội là biểu hiện tổng số những mối liên hệ và 13 z những quan hệ của các cá nhân với nhau. Cũng vì con người là yếu tố chủ yếu của bất kỳ hệ thống xã hội nào, nên quan hệ giữa người với người, mà trước hết là các quan hệ sản xuất sẽ là yếu tố cơ bản trong cơ cấu của hệ thống xã hội đó.
Trong thực tế, con người tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa và tinh thần. Mỗi lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội có những cơ cấu đặc thù. Mỗi cơ cấu này có những đặc điểm riêng nhưng vẫn bị quy định trước hết bởi những hình thức sở hữu hiện đang thống trị trong xã hội. Cơ cấu chỉnh thể xã hội do vậy không chỉ là những quan hệ trực tiếp giữa người với người.