Tổng quan luận án

Công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tại Việt Nam đặt ra yêu cầu tất yếu về việc nghiên cứu và phát triển con người. Trong các quá trình xã hội, con người luôn giữ vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Tuy nhiên, trong lĩnh vực cải cách hành chính (CCHC) nhà nước, do tính chất mới mẻ phát sinh trong tiến trình hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa cùng với những đặc thù về thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, một công trình nghiên cứu tổng hợp dưới lăng kính triết học về con người trong CCHC nhà nước ở Việt Nam trước đây vẫn còn để ngỏ.

Luận án khẳng định con người đóng vai trò quyết định xuyên suốt tiến trình CCHC:

  • Ở "đầu vào": Con người là nhân tố làm nảy sinh nhu cầu cải cách, trực tiếp hoạch định các chủ trương, đường lối, chương trình và kế hoạch CCHC.
  • Trong quá trình thực hiện: Đội ngũ cán bộ, công chức giữ vai trò quản lý, điều hành và vận hành bộ máy, trực tiếp tổ chức thực hiện các nội dung cải cách; đồng thời nhân dân tham gia giám sát, phản biện và đóng góp ý kiến.
  • Ở "đầu ra": Mục tiêu cao nhất của CCHC nhà nước là nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm quyền làm chủ và sự phát triển hạnh phúc, toàn diện của con người.

Mục đích nghiên cứu: Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về con người với tư cách là chủ thể và khách thể của quá trình CCHC nhà nước ở Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm phát huy nhân tố con người trong công cuộc xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực và hiệu quả.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Khái quát một số vấn đề lý luận về con người và hoạt động CCHC nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
  2. Phân tích, làm rõ vị trí, vai trò của con người với tư cách là chủ thể của quá trình CCHC nhà nước; đề xuất các giải pháp phát huy vai trò chủ thể của con người trong công cuộc CCHC.
  3. Phân tích, làm rõ vị trí, vai trò của con người với tư cách là khách thể của quá trình CCHC nhà nước; đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của con người - khách thể trong tiến trình này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Dưới góc nhìn triết học, luận án nghiên cứu vai trò của con người (bao gồm hai nhóm lực lượng chính: đội ngũ cán bộ, công chức và người dân) thể hiện trên hai phương diện biện chứng: chủ thể và khách thể của quá trình CCHC nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án không đi sâu vào các vấn đề lý luận trừu tượng chung về con người hoặc các kỹ thuật nghiệp vụ hành chính, pháp lý cụ thể, mà tập trung làm rõ mối quan hệ giữa con người trong vai trò chủ thể, khách thể đối với hoạt động CCHC nhà nước từ sau Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa VII (tháng 1/1995) đến giai đoạn thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001 - 2010.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án cho thấy vấn đề CCHC nhà nước và nhân tố con người đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước dưới các góc độ tiếp cận khác nhau:

  • Nghiên cứu về thể chế và dân chủ: Tác giả Hoàng Chí Bảo (2008) với công trình Cải cách thể chế ở Việt Nam trước thách thức của toàn cầu hóa đã phân tích những hạn chế về nhận thức dân chủ, sự thiếu đồng bộ của pháp luật, ý thức pháp luật yếu kém của công chức và người dân, cùng tình trạng quan liêu, giấy tờ, bệnh hình thức.
  • Nghiên cứu về tổ chức quyền lực nhà nước và tư pháp: Tác giả Nguyễn Đăng Dung (2009) với công trình Cải cách tư pháp trong tổ chức quyền lực nhà nước đã chỉ ra những khoảng trống trong cơ chế giám sát đối với bộ máy hành chính, phạm vi xét xử hành chính chưa bao quát hết hoạt động công quyền cấp cao và rào cản thụ lý đơn khiếu nại.
  • Nghiên cứu về tổ chức bộ máy và chính quyền địa phương: Báo cáo phát triển Việt Nam 2010 của các nhà tài trợ; các nghiên cứu của Hà Quang Ngọc (2007, 2010) về cải cách cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương, phân cấp quản lý đô thị - nông thôn và phân bổ nguồn lực công chức tại cơ sở.
  • Nghiên cứu về đạo đức công vụ: Vũ Gia Hiền và Nguyễn Hữu Khoát (2007) trong tác phẩm Đạo đức trong quản lý hành chính công tập trung phân tích động cơ quản lý, trách nhiệm công vụ và các chuẩn mực đạo đức hành chính quốc gia.
  • Nghiên cứu về sự tham gia của người dân: Báo cáo của UNDP và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2006); bài viết của Hà Quang Ngọc và Hà Quang Trường (2007) chỉ rõ tâm lý thiếu tin tưởng người dân từ phía nhà quản lý và tâm lý ỷ lại, coi quản lý nhà nước là việc riêng của cơ quan công quyền từ phía người dân.
  • Nghiên cứu về hiệu quả công tác, tâm lý và động lực: Nguyễn Hoàng Nguyên (2007) nghiên cứu phương thức xác định hiệu quả công tác của công chức; Trương Thị Thông và Lê Kim Việt (2008) nghiên cứu Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ; Nguyễn Văn Tài (2010) và Trần Thanh Hương nghiên cứu các biện pháp tâm lý nâng cao tính tích cực lao động của đội ngũ cán bộ.
  • Nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ: Các công trình của Thành Duy (2002), Hoàng Chí Bảo, Bùi Đình Phong (2006), Bùi Kim Hồng (2009), Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (2005) nghiên cứu toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tổ chức, cán bộ và đạo đức công vụ.
  • Nghiên cứu lịch sử và kinh nghiệm quốc tế: Văn Tạo (2009) với Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam; Lê Minh Thông và Nguyễn Danh Châu (2009); Ali Fazarmand (2001) về CCHC ở các nước đang phát triển; J. M. Buchanan (1977) giải thích nguyên nhân bộ máy chính phủ phình to; Tinh Tinh (2002) nghiên cứu kinh nghiệm cải cách chính phủ tại Trung Quốc; Báo cáo phát triển thế giới 2004 của Ngân hàng Thế giới (vấn đề nền hành chính phục vụ người dân hay "khách quen"); Masahiko Aoki và cộng sự (1997); Deborah Brautigam (1996).
  • Các nghiên cứu tổng hợp và giáo trình chuyên ngành: Thang Văn Phúc (2001, 2003); Giáo trình Học viện Hành chính Quốc gia (2002, 2004); các bài viết của Đỗ Quốc Sam (2007, 2008), Đinh Duy Hòa (2007), Nguyễn Đức Mạnh (2007), Trần Quang Nhiếp (2007) trên Tạp chí Cộng sản.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Mặc dù các công trình trước đây đã tiếp cận CCHC dưới nhiều góc độ như khoa học hành chính, luật học, kinh tế học hay xã hội học, nhưng phần lớn mới dừng lại ở việc xem xét con người như một yếu tố nguồn nhân lực hoặc giải quyết từng khía cạnh kỹ thuật riêng lẻ. Luận án này tiếp cận vấn đề một cách hệ thống dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích con người đồng thời ở hai tư cách: vừa là chủ thể kiến tạo và thực thi, vừa là khách thể thụ hưởng và chịu sự tác động, điều chỉnh của môi trường cải cách hành chính nhà nước tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Lý luận triết học Mác – Lênin: Luận án dựa trên quan điểm duy vật lịch sử về con người: con người là thực thể sinh học - xã hội, là chủ thể sáng tạo ra lịch sử nhưng bản chất con người luôn là "tổng hòa các quan hệ xã hội". Con người vừa tạo ra hoàn cảnh, vừa bị hoàn cảnh quy định.
  • Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Các nghị quyết, văn kiện về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; các chủ trương về CCHC từ Nghị quyết Trung ương 8 Khóa VII (1995) và Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001 - 2010.
  • Khung khái niệm phân tích: Khái niệm hành chính, CCHC, CCHC nhà nước; con người - chủ thể; con người - khách thể; môi trường hành chính và mối quan hệ biện chứng chủ - khách thể trong hệ thống xã hội - chính trị.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận chung: Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Nguyên tắc phương pháp luận: Xem xét vấn đề trong tính lịch sử - cụ thể và phương pháp tiếp cận hệ thống - cấu trúc (coi hệ thống hành chính là một tiểu hệ thống mở phức tạp, vận hành dựa trên sự trao đổi thông tin xã hội và tương tác giữa các cá nhân mang mục đích, lợi ích khác nhau).
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Kết hợp chặt chẽ giữa phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, đối chiếu, so sánh, khái quát hóa lý luận gắn liền với phân tích thực tiễn CCHC tại Việt Nam.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam; các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước (Luật Cán bộ, công chức 2008; Nghị định số 130/2005/NĐ-CP; Nghị định số 43/2006/NĐ-CP...).
  • Báo cáo tổng kết CCHC giai đoạn 2001 - 2010 của Chính phủ, Bộ Nội vụ; các báo cáo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP).
  • Các công trình khoa học, sách chuyên khảo, bài báo lý luận trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về con người và hoạt động cải cách hành chính nhà nước

Chương 1 xây dựng khung lý luận triết học về vị trí, vai trò của con người trong đời sống xã hội và làm rõ bản chất của hoạt động CCHC nhà nước:

  1. Khái lược quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về con người:

    • Con người là chủ thể của các quá trình xã hội: Con người là hạt nhân của mọi quan hệ xã hội, chủ động tác động, điều chỉnh sự vận động của các thiết chế theo nhu cầu và lợi ích của mình. Sự sáng tạo của con người diễn ra trên cơ sở các điều kiện khách quan.
    • Con người là khách thể trong đời sống xã hội: Con người chịu sự quy định của hoàn cảnh lịch sử, phương thức sản xuất và toàn bộ hệ thống quan hệ xã hội (kinh tế, chính trị, pháp quyền, đạo đức). Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội.
    • Con người trong hệ thống quản lý, tổ chức xã hội – chính trị: Hệ thống hành chính là hệ thống tương tác giữa con người với con người thông qua thông tin xã hội. Do mỗi cá nhân có nhu cầu, lợi ích, trình độ và tình cảm riêng nên hệ thống không thể tự động hóa tuyệt đối. Khi lợi ích cá nhân không trùng khớp với lợi ích của tổ chức sẽ xuất hiện lực cản, tạo ra "tính trễ" của cải cách.
  2. Khái niệm CCHC và CCHC nhà nước ở Việt Nam:

    • Luận án phân tích hai luồng quan điểm: (1) CCHC là quá trình cải biến toàn diện, sâu rộng làm thay đổi về chất mọi nội dung (thể chế, bộ máy, công chức, tài chính công); (2) CCHC là quá trình cải tiến từng phần, từng bước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý.
    • Dưới góc độ triết học, luận án xác định CCHC là hành vi có tính hướng đích của con người nhằm cải biến nền hành chính quốc gia theo hướng hoàn thiện hơn.
    • Phân tích các nguyên nhân khách quan (kinh tế thị trường, quá trình phi tập trung hóa, toàn cầu hóa, cách mạng công nghệ thông tin) và nguyên nhân chủ quan (tính trễ thể chế, bộ máy cồng kềnh, hạn chế của đội ngũ công chức, sức ép tài chính).
  3. Thực trạng CCHC nhà nước tại Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010: Luận án tổng kết kết quả thực hiện 4 nội dung trọng tâm của Chương trình tổng thể CCHC:

    • Cải cách thể chế: Từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, rà soát và bãi bỏ các thủ tục hành chính rườm rà.
    • Cải cách tổ chức bộ máy: Sắp xếp bộ máy hành chính theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh giảm từ 35 - 40 đầu mối xuống còn 20 - 25 đầu mối; cấp huyện giảm từ 20 - 25 phòng ban xuống còn 10 - 15 phòng ban. Thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân tại 67 huyện, 32 quận và 843 phường thuộc 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đẩy mạnh phân cấp trung ương - địa phương.
    • Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức: Thông qua Luật Cán bộ, công chức năm 2008; ban hành hơn 200 chức danh, tiêu chuẩn công chức; phân cấp công tác quản lý cán bộ cho cấp tỉnh, huyện. Thực hiện 5 lần điều chỉnh mức lương tối thiểu chung nhằm thu hẹp khoảng cách thu nhập so với khu vực tư:
Thời điểm áp dụng Mức lương tối thiểu chung (VNĐ)
Năm 2001 290.000
Tháng 10/2005 450.000
Tháng 01/2008 540.000
Tháng 05/2009 650.000
Tháng 05/2010 730.000
Tháng 05/2011 830.000
  • Cải cách tài chính công: Ban hành cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế và kinh phí theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP; tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7,27%/năm giai đoạn 2001 - 2010; huy động hiệu quả vốn ODA và thu hút dòng vốn FDI.
  • Những hạn chế được chỉ ra: Thể chế chưa đồng bộ; thủ tục hành chính còn phức tạp; bộ máy sáp nhập mang tính cơ học, biên chế không giảm; phẩm chất, năng lực công chức chưa đồng đều, còn hiện tượng quan liêu, tham nhũng; hiệu quả chi tiêu công chưa cao.
  1. Sự thể hiện của con người trong hoạt động CCHC nhà nước:
    • Con người - chủ thể: Bao gồm các nhà lãnh đạo chính trị (đưa ra cam kết, đường lối), đội ngũ công chức thừa hành (tổ chức thực hiện) và người dân/tổ chức xã hội (giám sát, phản biện). Quyền lực chủ thể được thực hiện qua cả phương tiện cưỡng bức (pháp luật, thể chế) và phi cưỡng bức (uy tín, niềm tin, đạo đức).
    • Con người - khách thể: Cán bộ, công chức và người dân là đối tượng chịu sự điều chỉnh của môi trường hành chính mới. Trong nhà nước pháp quyền dân chủ, người dân với tư cách công dân nắm giữ quyền lực chính trị "phi nhà nước" để kiểm soát, chế ước lại bộ máy nhà nước.

Chương 2: Con người – chủ thể của quá trình cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 đi sâu phân tích vai trò chủ động, sáng tạo của con người trong việc hoạch định và thực thi CCHC, đồng thời nhận diện các yếu tố cản trở vai trò chủ thể:

  1. Vai trò chủ thể của con người trong các khâu cải cách:

    • Hình thành chương trình CCHC: Con người nhận thức nhu cầu thực tiễn, phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội để xây dựng đường lối, mục tiêu và kế hoạch CCHC.
    • Tổ chức thực hiện chương trình CCHC:
      • Đội ngũ cán bộ, công chức: Giữ vai trò trực tiếp quản lý, điều hành, thực thi công vụ, chuyển hóa các quyết sách chính trị thành hiện thực hành chính.
      • Người dân: Tham gia với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền làm chủ thông qua việc đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, giám sát hoạt động của cơ quan công quyền và phản hồi chất lượng dịch vụ công.
  2. Các nhân tố tác động tiêu cực đến vai trò chủ thể của con người trong CCHC:

    • Cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước: Sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực chưa đồng bộ; cơ chế giải quyết tranh chấp hành chính và giám sát tư pháp đối với bộ máy hành pháp còn hạn chế.
    • Trình độ, kỹ năng và phong cách hành chính cũ: Thói quen làm việc hành chính quan liêu, thiên về mệnh lệnh giấy tờ, thiếu tinh thần trách nhiệm, năng lực tin học và ngoại ngữ hạn chế trước yêu cầu hội nhập.
    • Văn hóa và tâm lý dân tộc: Tồn tại tâm lý tiểu nông, thói quen ỷ lại vào Nhà nước; người dân xem việc quản lý là việc riêng của cơ quan công quyền, trong khi một bộ phận công chức coi việc ban hành chính sách là đặc quyền riêng biệt.
  3. Hệ thống giải pháp phát huy vai trò chủ thể của con người:

    • Khắc phục triệt để các nhân tố tác động tiêu cực từ cơ chế và môi trường hành chính cũ.
    • Đẩy mạnh dân chủ hóa đời sống xã hội, hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước.
    • Đổi mới căn bản nhận thức về công tác cán bộ: chuyển sang quản lý theo vị trí việc làm, chuẩn hóa chức danh, tuyển dụng và đãi ngộ dựa trên năng lực và hiệu quả thực tế.
    • Nâng cao nhận thức về tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ và tính chủ động của cán bộ, công chức.

Chương 3: Con người – khách thể của quá trình cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 luận giải sự biến đổi của con người dưới tác động của môi trường CCHC và các giải pháp nâng cao tính tích cực của con người ở vị trí khách thể:

  1. Bản chất sự tác động của CCHC nhà nước đối với con người: CCHC làm thay đổi môi trường thể chế, quy tắc ứng xử, thẩm quyền và trách nhiệm của từng cá nhân trong xã hội. Môi trường hành chính mới định hình lại chuẩn mực hành vi, bảo đảm quyền tự do dân chủ và thúc đẩy phát triển phẩm chất cá nhân.

  2. Tác động của CCHC đối với các quan hệ xã hội của con người:

    • Quan hệ giữa cán bộ, công chức với người dân: Chuyển dịch căn bản từ quan hệ "quản chế - xin cho" sang quan hệ "phục vụ - đối tác", bảo đảm tính công khai, minh bạch, bình đẳng trước pháp luật và giảm phiền hà cho công dân.
    • Quan hệ trong nội bộ đội ngũ cán bộ, công chức: Phân định rành mạch trách nhiệm cá nhân (đặc biệt là người đứng đầu), tăng cường tính minh bạch, thiết lập cơ chế cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy hợp tác chuyên môn.
  3. Hệ thống giải pháp nâng cao vai trò của con người - khách thể trong CCHC:

    • Nâng cao ý thức tuân thủ các quy tắc, quy chế hành chính mới, đồng thời thực hiện các chính sách khuyến khích, động viên cán bộ và người dân thực hiện cải cách.
    • Tuyên truyền sâu rộng để các tầng lớp nhân dân và đội ngũ công chức nắm vững, đồng thuận và ủng hộ các giá trị tiến bộ của CCHC.
    • Nâng cao nhận thức xã hội về quyền và trách nhiệm tham gia của người dân vào hoạt động quản lý nhà nước, xóa bỏ tâm lý thụ động, thờ ơ đối với công việc chung của đất nước.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Phân tích và luận giải một cách có hệ thống sự tác động hai chiều giữa con người và CCHC nhà nước dưới góc nhìn triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Làm rõ bản chất mối quan hệ biện chứng giữa vai trò chủ thể (kiến tạo, vận hành, giám sát) và vai trò khách thể (chịu sự điều chỉnh, thụ hưởng) của con người trong môi trường hành chính.
  • Bổ sung cơ sở lý luận cho chiến lược phát triển con người Việt Nam toàn diện, gắn kết chặt chẽ sự phát triển con người với quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp

  • Tổng kết thực tiễn CCHC tại Việt Nam giai đoạn 1995 - 2010, chỉ ra nguyên nhân gốc rễ của tình trạng trì trệ, kém hiệu quả trong khu vực công xuất phát từ nhân tố con người và môi trường văn hóa hành chính.
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ:
    • Về phía chủ thể: Thực hiện dân chủ hóa, đổi mới công tác cán bộ theo năng lực thực tế, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu và đạo đức công vụ.
    • Về phía khách thể: Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tạo cơ chế để người dân thực hiện quyền giám sát, phản biện xã hội và tham gia trực tiếp vào quản lý nhà nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu dưới góc độ triết học chuyên ngành (Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử), do đó không đi sâu vào việc giải quyết các bài toán kỹ thuật quản trị hành chính chi tiết, các mô hình định lượng thống kê hoặc quy trình nghiệp vụ chuyên biệt của từng bộ ngành cụ thể. Phạm vi thời gian nghiên cứu chủ yếu tập trung từ sau năm 1995 đến giai đoạn kết thúc Chương trình tổng thể CCHC 2001 - 2010.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Đánh giá tác động dài hạn của việc tổ chức mô hình chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn đối với vai trò của cán bộ, công chức cơ sở sau giai đoạn thí điểm không tổ chức HĐND.
    • Nghiên cứu hoàn thiện thể chế quan hệ hợp tác ba bên "Nhà nước - Thị trường - Xã hội dân sự" trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng chính phủ điện tử.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo hữu ích cho các chuyên ngành Triết học, Triết học chính trị, Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, Quản lý công, Hành chính học; đặc biệt là phần luận giải về mối quan hệ chủ thể - khách thể trong hệ thống xã hội.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn cho việc xây dựng chiến lược CCHC, đổi mới quy trình tuyển dụng, đánh giá cán bộ, công chức dựa trên năng lực và thiết kế cơ chế tham gia của người dân tại các cơ quan như Bộ Nội vụ, Ban Tổ chức Trung ương, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án khẳng định con người giữ vai trò quyết định ở cả "đầu vào", "trong quá trình" và "đầu ra" của CCHC?

Theo tác giả, ở "đầu vào", con người là chủ thể nhận thức nhu cầu và trực tiếp xây dựng đường lối, kế hoạch cải cách; "trong quá trình", đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp vận hành bộ máy và người dân tham gia phản biện, giám sát để hiện thực hóa các nội dung cải cách; ở "đầu ra", mục tiêu cuối cùng của toàn bộ chương trình CCHC là nâng cao chất lượng sống, phục vụ quyền lợi và sự phát triển hạnh phúc của con người.

2. Dưới góc độ triết học, luận án định nghĩa CCHC như thế nào?

Luận án xác định CCHC là hành vi có tính hướng đích của con người nhằm cải biến nền hành chính của một quốc gia theo hướng hoàn thiện hơn, khắc phục các khiếm khuyết trong các chương trình điều hành, quản lý mà không làm thay đổi bản chất của chế độ chính trị.

3. Những số liệu thực tiễn nổi bật nào về cải cách bộ máy và tiền lương giai đoạn 2001 - 2010 được nêu trong luận án?

Văn bản luận án ghi nhận: số cơ quan chuyên môn cấp tỉnh giảm từ 35 - 40 xuống 20 - 25 đầu mối; cấp huyện giảm từ 20 - 25 xuống 10 - 15 phòng ban; thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND tại 67 huyện, 32 quận và 843 phường của 10 tỉnh/thành phố; áp dụng hơn 200 tiêu chuẩn chức danh; thực hiện 5 lần tăng lương tối thiểu chung (từ 290.000 VNĐ năm 2001 lên 830.000 VNĐ vào tháng 5/2011); tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7,27%/năm.

4. Những nhân tố tiêu cực nào từ lịch sử và tâm lý xã hội đang cản trở vai trò chủ thể của con người trong CCHC?

Luận án chỉ ra ba nhóm nhân tố cản trở: (1) Hạn chế trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước và năng lực giám sát tư pháp; (2) Trình độ, kỹ năng chuyên môn yếu kém, phong cách làm việc quan liêu giấy tờ và sự suy thoái đạo đức của một bộ phận công chức; (3) Ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông, thói quen ỷ lại, coi quản lý nhà nước là việc riêng của chính quyền từ phía người dân, cùng tư duy xem ban hành chính sách là đặc quyền của công chức.

5. Điểm khác biệt về vị thế của con người - khách thể trong nhà nước pháp quyền dân chủ so với thể chế quân chủ chuyên chế là gì?

Trong nhà nước pháp quyền dân chủ, người dân với tư cách công dân mang quyền lực chính trị "phi nhà nước" được pháp luật bảo vệ. Quyền lực này cho phép người dân tham gia quản lý, thực hiện phản biện xã hội, giám sát và chế ước ngược trở lại đối với bộ máy nhà nước, chứ không đơn thuần là đối tượng phục tùng thụ động như trong thể chế quân chủ chuyên chế.


Kết luận

Luận án Vấn đề con người trong cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay của tác giả Hà Quang Trường là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tác phẩm đã phân tích toàn diện và có hệ thống mối quan hệ biện chứng giữa con người và hoạt động CCHC nhà nước, làm rõ vị trí, vai trò của cán bộ, công chức và nhân dân trên cả hai phương diện chủ thể và khách thể. Bằng việc kết hợp giữa lý luận triết học Mác - Lênin với việc tổng kết thực tiễn giai đoạn 1995 - 2010, luận án đã cung cấp cơ sở khoa học và đề xuất các nhóm giải pháp nhằm phát huy nhân tố con người trong công cuộc xây dựng nền hành chính nhà nước Việt Nam trong sạch, vững mạnh và hiệu quả.