Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ xem phim trực tuyến có trả phí trên ứng dụng netflix của sinh viên trường đại học ngân hàng

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ xem phim trực tuyến trả phí trên Netflix của sinh viên trường đại học ngân hàng.

Trường đại học

Trường Đại Học Ngân Hàng

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2024

114
16
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Mục tiêu của đề tài

1.1.1. Mục tiêu tổng quát

1.1.2. Mục tiêu cụ thể

1.2. Câu hỏi nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Ý nghĩa của đề tài

1.5.1. Về lý thuyết

1.5.2. Về thực tiễn

TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT

TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Những Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Ý Định Sử Dụng Netflix

Dịch vụ xem phim trực tuyến đang trở thành một phần không thể thiếu trong thói quen giải trí của sinh viên, đặc biệt là sinh viên ngành ngân hàng. Nghiên cứu này nhằm khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ xem phim trực tuyến có trả phí trên ứng dụng Netflix của sinh viên. Các yếu tố như nhận thức hữu ích, thái độ và mức giá hợp lý sẽ được phân tích để hiểu rõ hơn về hành vi tiêu dùng của nhóm đối tượng này.

1.1. Ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng

Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định các yếu tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản lý Netflix trong việc cải thiện dịch vụ của họ.

1.2. Đối Tượng Nghiên Cứu Là Sinh Viên Ngân Hàng

Sinh viên ngân hàng là nhóm đối tượng chính trong nghiên cứu này, với thói quen tiêu dùng và nhu cầu giải trí đặc thù, điều này sẽ giúp làm nổi bật các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ.

II. Những Thách Thức Trong Việc Sử Dụng Dịch Vụ Xem Phim Trực Tuyến

Mặc dù dịch vụ xem phim trực tuyến có nhiều lợi ích, nhưng sinh viên vẫn gặp phải một số thách thức trong việc sử dụng Netflix. Những thách thức này bao gồm giá cả, chất lượng nội dung và sự cạnh tranh từ các dịch vụ khác.

2.1. Giá Cả Dịch Vụ Xem Phim Trực Tuyến

Giá cả là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ. Sinh viên thường có ngân sách hạn chế, do đó, mức giá hợp lý sẽ quyết định đến ý định sử dụng dịch vụ.

2.2. Chất Lượng Nội Dung Trên Netflix

Chất lượng nội dung cũng là một yếu tố quan trọng. Sinh viên mong muốn có những bộ phim và chương trình truyền hình chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu giải trí của họ.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Ý Định Sử Dụng

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ xem phim trực tuyến. Các phương pháp này bao gồm khảo sát và phân tích dữ liệu từ sinh viên.

3.1. Phương Pháp Khảo Sát Sinh Viên

Khảo sát được thực hiện với 249 sinh viên để thu thập dữ liệu về ý định sử dụng dịch vụ xem phim trực tuyến. Dữ liệu này sẽ được phân tích để xác định các yếu tố ảnh hưởng.

3.2. Phân Tích Dữ Liệu Bằng SPSS

Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích bằng phần mềm SPSS để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định sử dụng dịch vụ.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Ý Định Sử Dụng Dịch Vụ Xem Phim

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố như nhận thức hữu ích và thái độ có ảnh hưởng lớn đến ý định sử dụng dịch vụ xem phim trực tuyến của sinh viên. Những yếu tố này cần được chú trọng để cải thiện dịch vụ.

4.1. Nhận Thức Hữu Ích Ảnh Hưởng Đến Ý Định

Nhận thức về tính hữu ích của dịch vụ xem phim trực tuyến là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến quyết định sử dụng của sinh viên. Họ cần thấy được giá trị mà dịch vụ mang lại.

4.2. Thái Độ Của Sinh Viên Đối Với Dịch Vụ

Thái độ tích cực đối với dịch vụ xem phim trực tuyến sẽ thúc đẩy ý định sử dụng. Sinh viên có xu hướng sử dụng dịch vụ nếu họ có trải nghiệm tốt từ những lần sử dụng trước.

V. Kết Luận Về Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Ý Định Sử Dụng Netflix

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ xem phim trực tuyến của sinh viên ngân hàng. Việc hiểu rõ các yếu tố này sẽ giúp Netflix cải thiện dịch vụ và thu hút thêm người dùng.

5.1. Tương Lai Của Dịch Vụ Xem Phim Trực Tuyến

Dịch vụ xem phim trực tuyến có tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai, đặc biệt là trong nhóm đối tượng sinh viên. Cần có những chiến lược phù hợp để đáp ứng nhu cầu của họ.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Cải Thiện Dịch Vụ

Các nhà quản lý Netflix cần xem xét các yếu tố ảnh hưởng và đưa ra các chính sách cải thiện dịch vụ để thu hút và giữ chân người dùng, đặc biệt là sinh viên.

10/07/2025
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ xem phim trực tuyến có trả phí trên ứng dụng netflix của sinh viên trường đại học ngân hàng

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, tác giả đã trình bày cụ thể, rõ ràng về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu được sử dụng. Và chỉ ra ý nghĩa của đề tài về 2 mặt: lý thuyết, thực tiễn. Ngoài ra, tóm tắt sơ bộ bố cục bài khóa luận để dễ dàng theo dõi. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.Một số khái niệm cơ sở 2.Dịch vụ Theo Philip Kotler (1987), dịch vụ là những hoạt động hoặc lợi ích mà bên này có thể đề xuất cho bên khác.

Với điều kiện, một bên cung cấp phải vô hình và không để xảy ra quyền sở hữu. Việc sản xuất dịch vụ có hoặc không thể liên quan đến sản phẩm hữu hình.Dịch vụ giải trí Dịch vụ giải trí mang đến cho những cá nhân những hoạt động mang tính thẩm mĩ trong thời gian rãnh mục đích chủ yếu là giải tỏa những căng thẳng về mặt tinh thần giúp tạo sự phấn khởi, ảnh hưởng tích cực và cải thiện việc phát triển toàn diện về sức khỏe thể chất, tinh thần và thẩm mỹ (Đỗ Thị Kim Tiên và các cộng sự, 2020). Hiện nay, hình thức dịch vụ giải trí được giới trẻ quan tâm là nền tảng phát trực tuyến. Thay vì chi phí để mua vé xem phim mà họ chỉ có thể xem một bộ phim.

Nhưng qua ứng dụng trực tuyến Netflix, khách hàng có thể thỏa thích tiếp cận kho tàng thư viện phim với đa dạng các thể loại phim như phim hành động, phim khoa học viễn tưởng, phim tâm lý tình cảm, phim tài liệu… Việc xem phim trên ứng dụng trực tuyến này được xem là hành động giải trí. Chính nhu cầu này đã tạo tiền đề cho sự xuất hiện của các nhà cung cấp dịch vụ phát trực tuyến.Phát trực tuyến Theo Đỗ Thị Kim Tiên và các cộng sự (2020), phát trực tuyến là hình thức truyền hình thế hệ mới có đa dạng các chương trình và kênh theo yêu cầu được truyền qua mạng Internet tốc độ cao. Khác với truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh là sẽ truyền đồng thời tất cả các kênh, thì nó sẽ truyền những kênh riêng biệt phụ thuộc vào yêu cầu của người đăng kí kênh. Các nhà cung cấp nội địa trong cùng lĩnh vực cụ thể có VTVnet, VTCnet, FPT sẽ tập hợp những kênh truyền hình được ưa thích, tạo nên những gói dịch vụ với đa dạng các mức giá tương ứng với yêu cầu và điều kiện về kinh tế của người dùng.

Sở dĩ truyền hình trực tuyến vượt trội hơn hẳn truyền hình cáp ở chỗ nó sẽ không bị giới hạn và lệ thuộc quá nhiều vào thời gian phát sóng. Người dùng sẽ 10 không lo về vấn đề chương trình yêu thích của họ bị bỏ lỡ vì họ có thể xem lại mọi lúc. Và các chương trình truyền hình sau khi được số hóa sẽ lưu trữ dưới dạng các tập tin chương trình gồm âm thanh và hình ảnh tại máy chủ, người dùng chỉ cần thao tác vài bước đơn giản để truy cập vào tập tin đó trên trang web của nhà cung cấp dịch vụ, sau đó, tự do lựa chọn chương trình mà họ muốn xem (Nam, 2014).Dịch vụ phát trực tuyến theo yêu cầu dựa trên đăng ký Theo Oyedele và Simpson (2018), sử dụng thuật ngữ ứng dụng giải trí phát trực tuyến (ESAs), định nghĩa dịch vụ giải trí phát trực tuyến theo nhu cầu (OES) như là một nền tảng phần mềm cho phép người dùng truy cập và thưởng thức những nội dung theo yêu cầu từ địa điểm khác nhau bằng các thiết bị kết nối internet như máy tính, điện thoại thông minh, TV thông minh. Theo Rouse and Techopedia (2019), cho rằng truyền phát trực tuyến là một phương thức để gửi nội dung đa phương tiện như video, âm thanh từ các nhà cung cấp dịch vụ truyền dữ liệu đến người dùng bằng các giao thức HTTP, TCP/IP, HTML.Trả phí Theo Đỗ Thị Kim Tiên và các cộng sự (2020), sự kết hợp giữa “free” (miễn phí) và “premium” (cao cấp) tạo thành từ “freemium”.

Đây là một mô hình kinh doanh khá thú vị về vấn đề cung cấp cho khách hàng cả dịch vụ miễn phí và dịch vụ tính phí. Công ty cung cấp các dịch vụ cơ bản ban đầu miễn phí cho mọi người dùng thử; đồng thời cung cấp các dịch vụ cao cấp hơn hoặc các tính năng bổ sung. Ý tưởng về mô hình kinh doanh Freemium được hình thành vào khoảng tháng 3/2006 bởi Fred Wilson, thời kỳ mà lợi nhuận được tạo ra từ quảng cáo trên các website đã giảm đi đáng kể, vì vậy Freemium được sử dụng như một giải pháp thay thế đáng tin cậy. Theo mô hình Freemium, một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ miễn phí cho người tiêu dùng như một cách để thiết lập nền tảng cho các giao dịch trong tương lai.

Bằng cách cung cấp các tính năng cơ bản của phần mềm hoặc dịch vụ miễn phí, các công ty xây dựng mối quan hệ với khách hàng, để rồi cung cấp cho họ các dịch vụ tiên tiến, tiện ích bổ sung, xóa bỏ giới hạn lưu trữ hoặc giới hạn sử dụng, nâng cao hoặc trải nghiệm người dùng, hoặc loại bỏ quảng cáo – với một mức phí.Ý định sử dụng Theo thuyết hành vi TRA, ý đinh là nhân tố thể hiện sự cố gắng của cá nhân khi thực hiện bất kì hành vi cụ thể. Ý định cũng góp phần ảnh hưởng đến quyết định hành vi của cá nhân. Ý định mua hàng là khả năng người tiêu dùng muốn mua sản phẩm (Dodds, Monroe, & Grewal, 1991).Tổng quan về các nghiên cứu trước 2.Thuyết hành động hợp lý Theo Ajzen & Fishbein (1975), thuyết hành động hợp lý được dùng để giải thích việc thực hiện hành vi khi người đó đã có ý định từ trước. Lý thuyết này có nguồn gốc từ các nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý xã hội và có ý nghĩa như việc tiên đoán ý định, hành vi của con người.

MH thuyết hành vi hợp lý Nguồn: Ajzen & Fishbein, 1975 Mô hình được Ajzen & Fishbein xây dựng chủ yếu cấu thành từ 2 yếu tố ảnh hưởng chính: Thái độ đối với hành vi và chuẩn mực chủ quan. Thái độ là mức độ mà cá nhân đánh giá tiêu cực, tích cực hoặc có thể là trung lập về hành vi đó. Chuẩn mực chủ quan là mức độ mà những người thân, người quan trọng nghĩ rằng cá nhân đó có nên thực hiện hành vi đó hay không. Theo Azjen (1991), ý định là việc nắm bắt được 12 nhân tố động cơ ảnh hưởng đến hành vi.

Đó cũng là dấu hiệu cho thấy người đó cố gắng như thế nào để thực hiện hành vi.Thuyết nhận thức rủi ro Theo Bauer (1960), người đã định nghĩa khái niệm rủi ro lần đầu, rủi ro là những hành vi gây ra hậu quả khó lường và không lường trước được. Khác với rủi ro là sự không chắc chắn, hai khái niệm này có mối liên hệ, nhưng không đồng nhất. Cụ thể, sự không chắc chắc không thể đo lường được kết quả hay nói cách khác là không thể tính xác suất kết quả bằng các thuật ngữ toán học cũng như không thể dự đoán sự mất mát hay hư hại. Trong khi, các nhà thuyết gia khác định nghĩa “rủi ro” là tình huống mà người ra quyết định có kiến thức tiên nghiệm về cả hậu quả của các lựa chọn thay thế và có thể đo lường được xác suất xảy ra của chúng.

Theo Cunningham (1967), nhận thức rủi ro bao gồm 6 chiều: rủi ro về hiệu suất, rủi ro về tài chính, rủi ro về cơ hội/ thời gian, rủi ro về sự an toàn, rủi ro về xã hội, rủi ro về tâm lý. Theo Taylor (1974), những loại rủi ro thường hiện diện trong mọi tình huống lựa chọn với mức độ khác nhau, tùy thuộc vào bản chất cụ thể của quyết định. Theo Downling và Staelin (1994), nhận thức rủi ro trong việc mua hàng là rủi ro về mặt tâm lý hay về mặt chức năng mà người tiêu dùng cảm thấy thường xảy ra trước khi mua hàng. Nói cách khác, nhận thức rủi ro là sự mơ hồ thường xuất hiện trước khi người tiêu dùng mua mặt hàng sản phẩm/ dịch vụ.

Theo Zahir, Dobing, và Hunter (2004), rủi ro là kết quả của nơi mua hàng mà người tiêu dùng không có khả năng kiểm soát kết quả mua hàng hay mức độ nghiêm trọng của kết quả liên quan đến việc ra quyết định sai lầm, không thích hợp. Theo Bauer (1960), do sự phức tạp và khó khăn trong việc xác định rủi ro một cách khách quan, nhận thấy rằng trong các nghiên cứu nói chung thì rủi ro được định nghĩa là thước đo niềm tin chủ quan của người tiêu dùng về sự thua lỗ khi cố gắng theo đuổi kết quả nào đó.Thuyết chấp nhận công nghệ 13 Hình 2. MH chấp nhận công nghệ TAM Nguồn: Davis, 1989 Đây là mô hình được Davis đề xuất ban đầu năm 1989. Một ứng dụng cụ thể của thuyết hành động hợp lý của (Fishbein & Ajzen, 1975) vào công nghệ dẫn đến sự ra đời và phát triển của thuyết chấp nhận công nghệ TAM.

Mô hình TAM tập trung vào hai yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến việc sẵn sàng đón nhận công nghệ mới của người dùng: nhận thức về hữu ích, nhận thức về tính dễ sử dụng. Biến đầu ra là ý định hành vi và hành vi sử dụng công nghệ (Scherer và các cộng sự, 2019). Ý nghĩa của mô hình này giải thích lý do tại sao mà người dùng sẽ tin dùng hoặc từ chối sử dụng công nghệ (Davis, 1989; Lee và các cộng sự, 2010). Mô hình này được tạo ra dựa trên các nguyên tắc tâm lý nhằm xác định và đo lường “ hành vi liên quan đến những thành phần của thái độ”, cho phép hiểu rõ hơn các kích thích bên ngoài như công nghệ có thể tác động đến niềm tin, thái độ, hành vi của bất kỳ cá nhân.

Nghiên cứu có liên quan về chủ đề của nghiên cứu này đã báo cáo rằng những lợi ích được nhận thấy của phương tiện truyền phát trực tuyến cũng bị ảnh hưởng bởi tính dễ sử dụng của công nghệ (Tefertiller, 2020; Yang và Lee, 2018; Cha, 2013). Theo Davis (1986), dễ sử dụng là mức độ mà người dùng nghĩ rằng sử dụng hệ thống cụ thể sẽ không cần bất kì sự cố gắng hay nỗ lực. Nhận thức dễ sử dụng là mức độ mà người dùng cảm thấy công nghệ đơn giản, dễ nắm bắt và không trở ngại (Zeithaml, Parasuraman, and Malhotra, 2002). 14 Còn dưới đây là mô hình TAM sau khi được Venkatesh và Davis đơn giản hóa bằng cách lược bỏ thái độ trong mô hình gốc TRA.

MH chấp nhận công nghệ TAM Nguồn: Venkatesh và Davis, 2000 2.Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Những Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Ý Định Sử Dụng Dịch Vụ Xem Phim Trực Tuyến Trên Netflix Của Sinh Viên Ngân Hàng" khám phá các yếu tố tác động đến quyết định của sinh viên ngành ngân hàng trong việc sử dụng dịch vụ xem phim trực tuyến trên Netflix. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về hành vi tiêu dùng của sinh viên mà còn chỉ ra những yếu tố như sở thích cá nhân, thói quen sử dụng công nghệ và ảnh hưởng từ bạn bè.

Bằng cách nắm bắt những thông tin này, người đọc có thể áp dụng vào việc phát triển các chiến lược marketing hiệu quả hơn cho dịch vụ giải trí trực tuyến. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà trọ của sinh viên trường đại học ngân hàng thành phố hồ chí minh, nơi phân tích các yếu tố quyết định trong lựa chọn chỗ ở của sinh viên. Ngoài ra, tài liệu Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm thời trang của gen z thông qua nền tảng tiktok shop tại thành phố hồ chí minh cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về hành vi tiêu dùng của thế hệ trẻ. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của học sinh sinh viên về dịch vụ cho vay tại ngân hàng chính sách xã hội thành phố cần thơ, giúp bạn hiểu rõ hơn về sự hài lòng của sinh viên đối với các dịch vụ tài chính. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về hành vi tiêu dùng của sinh viên.