Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thị trường vàng Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường vàng trong nền kinh tế Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp phát triển thị trường vàng ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo. 4 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỊ TRƢỜNG VÀNG 1.1 Đặc điểm của vàng 1.1 Vàng là một kim loại quý Vàng là nguyên tố hóa học có ký hiệu hóa học là Au. Đây là kim loại quý trong ngành trang sức, điêu khắc và trang trí kể từ khi được xuất hiện trong lịch sử. Ở khắp nơi trên Trái đất, vàng đều được thừa nhận là một kim loại quý cùng với bạc, đồng, platin… vì: - Vàng có tính bền vững hóa học rất cao, không bị tác dụng bởi oxy, nitơ, hydro, cacbon… kể cả các loại acid, chỉ trừ halogen đun nóng và hỗn hợp acid selentic (H2SeO4).
Đây là đặc điểm vô cùng quan trọng của vàng, nhờ tính bền vững hóa học đó mà con người đã sớm khai thác, sử dụng và tôn quý nó. - Vàng nguyên chất có vẻ đẹp bề ngoài sáng bóng dù khi đạt đến độ nóng chảy (10620C). Nếu tăng nhiệt độ lên 29700C thì dung thể vàng bắt đầu sôi. Chính sắc vàng rực rỡ, choáng ngợp ấy là điểm khởi đầu hấp dẫn con người và biến nó thành người bạn đồng hành trong quá trình tiến hóa của nhân loại; - Vàng nguyên chất có độ dẻo cao, dễ dát thành lá mỏng dưới 0,0002mm, 1gram vàng có thể dát mỏng thành một tấm vuông cạnh 80cm và cũng dễ dàng kéo thành sợi, 1 gram vàng có thể kéo dài 2km.
Lá vàng có thể được dát mỏng đến mức ánh sáng có thể đi qua. Nhờ những đặc điểm này nên vàng rất phù hợp cho việc chế tác đồ kim hoàn, các linh kiện điện tử, kể cả các vi mạch…; - Ngoài ra, vàng là vật chất có độ dẫn điện và dẫn nhiệt cao, phản ánh tia hồng ngoại rất mạnh. Ngày nay, vàng được sử dụng nhiều trong nha khoa và điện tử. 5 z Trong suốt lịch sử nhân loại, ước tính khoảng 182.787 tấn vàng đã được khai thác.
Các khu vực khai thác chính là Nam Phi 52.989 tấn, Liên Bang Nga và các nước thuộc Liên Xô trước đây 20. Trong cố gắng tìm kiếm, khai thác vàng, các nhà “Luyện kim thuật” thời trung cổ hy vọng có thể lấy vàng ra từ nước biển. Họ thu được một chất lỏng và tin chắc có vàng trong đó. Nhưng họ đã không thể chiết suất vàng.
Các nỗ lực sau đó cũng không thành công. Ngày nay, cùng với tiến bộ của khoa học kỹ thuật, chẳng những kỹ thuật khai thác vàng được nâng cao mà người ta còn ứng dụng kỹ thuật biến đổi hạt nhân của vật chất bằng tia chiếu gamma vào thủy ngân để tạo ra vàng. Tuy nhiên thành tựu đạt được lại tốn kém hơn gấp nhiều lần chi phí khai thác vàng thiên nhiên. Nếu khai thác mỏ tập trung, giá thành từ 300 đến 850 USD/ounce (31,10348 gram), trong khi đó, nếu chế biến từ thủy ngân, giá thành tăng gấp nhiều lần.
Vì thế hiện nay, vàng vẫn còn là kim loại quý, tương đối hiếm. Trong thế giới hàng hóa, vàng vẫn còn có giá rất cao so với nhiều loại hàng hóa khác. Do chưa chế tạo, sản xuất một cách dễ dàng, với số lượng tùy ý để có thể dẫn đến khủng hoảng thừa, cho nên vàng vẫn chiếm một ngôi vị bền vững trong đời sống kinh tế.2 Vàng là một hàng hóa đặc biệt Với tính chất ưu việt và được công nhận rộng rãi, vàng đã trở thành một vật chất đặc biệt mang hình thái hàng hóa – tiền tệ. Lịch sử tiền vàng kéo dài hàng mấy nghìn năm và phổ biến trên khắp các nước với những biến cố, những giai đoạn thăng trầm khác nhau.
Khi đóng vai trò là tiền thì tiền vàng đã có đầy đủ các chức năng của tiền tệ nói chung và cho đến ngày nay chưa 6 z có loại tiền nào có chức năng đầy đủ như thế, bao gồm: chức năng phương tiện thanh toán, thước đo giá trị và phương tiện tích trữ. Chức năng quan trọng của tiền vàng là chức năng phương tiện thanh toán: thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế. Với chức năng này, tiền vàng giúp cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, trao đổi hàng hóa giữa những chủ thể cá biệt được thuận lợi, dễ dàng, đồng thời thúc đẩy trình độ chuyên môn hóa và phân công lao động hợp lý giữa những nước có mở cửa nền kinh tế. Đặc điểm phổ biến của vàng đã đưa vàng lên vai trò là một loại tiền tệ quốc tế, vượt qua mọi biên giới, vượt lên trên mọi sự phân biệt chủng tộc, đẳng cấp xã hội và độc lập với mọi thể chế chính trị cho đến khi toàn thể nhân loại tìm ra và cùng chấp nhận một hình thái nào khác có đầy đủ các đặc điểm và tính chất khả dĩ thay thế được vàng.
Tiền vàng có một chức năng quan trọng nữa là phương tiện thước đo giá trị khi nó xác định chi phí sản xuất và giá cả của hàng hóa được mua bán. Bằng cách sử dụng một đơn vị thanh toán chung khi quy định giá cả, mọi sự giao dịch trong và ngoài nước được đơn giản hóa, đồng thời còn cho phép thanh toán với các kỳ hạn nhất định. Lúc đó, tiền chỉ làm chức năng tiền kế toán hay thước đo giá trị trên ý niệm; Chức năng thứ ba của tiền vàng là một phương tiện tích trữ hữu hiệu, biến tiền trở thành một loại của cải, tài sản an toàn. Việc tích trữ tiền không chỉ diễn ra ở một cá nhân mà cả ở Nhà nước dưới dạng tài sản quốc gia, một nguồn dự trữ bằng tiền vàng nhằm làm “tiền quốc tế” giải quyết các khó khăn về cán cân thanh toán, đồng thời để đảm bảo giá trị cho những loại tiền tệ khác nhau lưu hành trong nước.
Vàng đang được giữ dưới hai hình thức: Khối vàng tự do: Những người nắm giữ số vàng này bao gồm: - Nông dân, những người thuộc tầng lớp trung lưu, có tuổi đời trung bình trên 50 tuổi. Họ luôn xem vàng là một loại của cải vững chắc nhất vì họ 7 z ít tin tưởng vào các loại tiền tệ ngoài vàng và họ không muốn biểu lộ sự giàu có qua các tài sản khác; - Những người kinh doanh không muốn công khai tài chính, không muốn báo cáo các giao dịch tài chính. Đối với họ, vàng là một phương tiện thanh toán hữu hiệu, tránh được sự kiểm soát nhằm trốn thuế; - Những công dân lương thiện tin chắc rằng sắp có lạm phát, hoặc đề phòng lạm phát xảy ra. Đối với họ, vàng sẽ giữ được giá trị thực sự của nó và tích lũy bằng vàng tốt hơn đầu tư vào bất cứ lĩnh vực nào khác (như chứng khoán, bất động sản…); - Những người đầu cơ vàng; - Những nhà doanh nghiệp kim hoàn.
Đối với họ, vàng là vàng. Đôi lúc họ là những người đầu cơ, nhưng thường thì họ trữ vàng chỉ để phục vụ cho nghề nghiệp: chế tác và kinh doanh vàng – nữ trang mang tính kỹ thuật và mỹ thuật cao; - Một số nhà công nghiệp đang nắm giữ vàng với tính chất thuần túy là một loại nguyên liệu. Họ dành sự quan tâm đến vàng như một trong những đầu vào sản xuất mà họ luôn luôn phải tiết kiệm; Khối vàng – tiền tệ: Chủ nhân của khối vàng này chỉ gồm một số ít đối tượng đặc biệt. Đó là những Ngân hàng Trung ương và các cơ quan tiền tệ, tài chính quốc tế.
Các NHTW vẫn tiếp tục giữ vàng – tiền tệ như là một phần dự trữ ngoại hối để có thể can thiệp vào thị trường hối đoái. Đôi khi vì sức ép giải quyết mất cân đối trong cán cân thanh toán, các nước phải bán hoặc cầm cố một phần quỹ vàng dự trữ quốc gia tại các NHTW khác. Các NHTW thường có khuynh hướng tăng thêm quỹ vàng dự trữ thông qua thị trường tự do hoặc qua các thỏa thuận song phương giữa các NHTW. 8 z Vàng đã đóng vai trò đảm bảo giá trị cho các loại tiền tệ khác ngoài tiền kim loại (tiền vàng, tiền bạc).
Trước hết, đối với tiền giấy, vàng cũng là cơ sở hình thành tiền giấy. Vào thế kỷ thứ XVII, Ngân hàng Amsterdam (Hà Lan) đã cấp cho người có ký gửi vàng hay bạc những tấm biên lai có đặc điểm chia thành nhiều tấm nhỏ và có thể đổi ra vàng tại Ngân hàng ký phát hoặc chuyển nhượng cho người khác thụ hưởng nếu họ chịu nhận. Đây là một sáng kiến thời đó, tuy chỉ được áp dụng một cách dè dặt: biên lai được cấp cho chính người ký gửi vàng và có trị giá đúng bằng giá trị số vàng ký gửi. Sau đó, theo dòng lịch sử, những tấm phiếu có hình thức như giấy bạc ngày nay được phát hành và dần phát huy những chức năng của tiền tệ.
Để kiểm soát tình trạng hỗn loạn do một số Ngân hàng đã gây thiệt hại cho người dân vì đã tin vào “tiền giấy” do những Ngân hàng tư nhân đó phát hành, Nhà nước đã can thiệp đi từ kiểm soát phát hành đến độc quyền phát hành tiền giấy, tương tự như việc đúc tiền vàng. Lúc đó, một số ít Ngân hàng tư có uy tín được phép phát hành tiền giấy nhưng phải chấp nhận một số điều kiện kiểm soát của Nhà nước như sau: - Điều kiện tiên quyết: Số tiền giấy phát hành bất cứ lúc nào cũng có thể đổi lấy tiền thực (tiền vàng) tại Ngân hàng phát hành; - Điều kiện dự trữ pháp định: Để bảo đảm cho điều kiện khả hoán, Ngân hàng phải luôn tồn trữ một số vàng tương ứng số tiền giấy đã phát hành (thường chấp nhận từ 40% đến 60%); - Những người lãnh đạo của Ngân hàng được bổ nhiệm với sự phê chuẩn của Nhà nước; - Ngân hàng phát hành phải trả một số thuế trên giá trị số tiền giấy phát hành thặng dư so với số vàng bảo đảm; - Mỗi khi Nhà nước cần tiền, Ngân hàng phát hành phải cho vay không lấy lãi. 9 z Tuy nhiên, về sau khi quyền phát hành tiền được trao cho chỉ một Ngân hàng của Nhà nước (Ngân hàng Trung ương) thì Nhà nước có điều kiện chi phối chặt chẽ việc phát hành tiền. Điều này cũng có thể gây nguy hại cho nền kinh tế, nếu vì nguyên nhân nào đó, chính quyền lợi dụng quyền phát hành, không tuân thủ các quy luật kinh tế (ví dụ gần đây là các cuộc khủng hoảng nợ công ở Mỹ và Châu Âu).
Do đó, để đề phòng, ở nhiều nước, Ngân hàng phát hành được hưởng quy chế tự chủ.