Chương 1: Tổng quan các công trình liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Phát triển mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu chọn, chuyển đổi và lòng trung thành đối với hệ thống xe buýt.
Chương 5: Nhân tố tác động chính và định hướng chính sách giải pháp tăng việc sử dụng xe buýt đô thị Việt Nam. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Với mục tiêu chung nhằm tăng việc sử dụng hệ thống xe buýt trong tương lai, nội dung nghiên cứu được tiếp cận theo cách làm tăng lựa chọn xe buýt, giảm lựa chọn GTCN và duy trì việc lựa chọn này thông qua lòng trung thành của hành khách đối với hệ thống; đồng thời hướng đến việc tăng chuyển đổi phương tiện sang xe buýt từ các loại phương tiện khác (Hình 1. Theo hướng tiếp cận này, nghiên cứu tổng quan các công trình liên quan gồm 3 nội dung: chọn phương tiện đi lại nói chung, phương tiện xe buýt nói riêng; chuyển đổi phương tiện đi lại sang GTCC và lòng trung thành của hành khách đối với hệ thống GTCC. Ngoài ra, một số chính sách, giải pháp cũng được phân tích tổng hợp để xác định vấn đề cần tập trung trong nghiên cứu của luận án.
Các bước phân tích tổng quan được thực hiện theo sơ đồ Hình 1. Lựa chọn phương thức đi lại K M B Ô tô, được Xe Xe chở, xe đạp, máy buýt đi bộ, … Tăng việc Lòng trung sử Chuyển đổi thành dụng sang xe buýt xe buýt N Y R W Không Chuyển Tiếp tục Nhận xét chuyển đổi sang sử dụng tích cực đổi xe buýt (Reuse) (WoM) Hình 1.1 - Sơ đồ tiếp cận mục tiêu ngiên cứu 9 Tìm kiếm các nghiên cứu từ các Loại bỏ các nghiên 1 nguồn tài liệu (google scholar, tạp cứu không liên quan chí, tài liệu khác) - Thông qua tiêu đề và tóm tắt của các nghiên cứu; Xác định nghiên - Từ khóa: GTCC, lựa chọn phương tiện, chuyển đổi cứu có liên quan phương tiện, lòng trung thành đối với GTCC. - Ưu tiên những nghiên cứu trong khoảng (57) năm 2 Phân tích, đánh giá chi tiết nghiên cứu liên quan Nghiên cứu chọn Nghiên cứu chuyển đổi Nghiên cứu lòng trung phương thức đi lại phương thức đi lại thành đối với hệ thống (35 nghiên cứu) (12 nghiên cứu) GTCC (78 nghiên cứu) - Số lượng và loại phương - Loại phương tiện - Loại hình phương tiện tiện đi lại (Xe máy, xe đạp, nghiên cứu chuyển đổi GTCC (xe buýt, BRT, tàu bộ hành, GTCC, ô tô cá - Có hay không có điện, tàu điện ngầm). phương tiện xe máy.
- Mô hình phân tích - Có hay không có phương - Loại hình phương - Mô hình lý thuyết tiện xe máy. tạo nên lòng trung thành của điện, tàu điện ngầm). - Mô hình phân tích hành khách đối với hệ thống - Mô hình phân tích - Yếu tố tác động đến GTCC. - Yếu tố tác động đến việc việc chuyển đổi - Đối tượng nghiên cứu, khu chọn phương thức đi lại.
phương thức đi lại. vực (phạm vi) nghiên cứu. - Đối tượng nghiên cứu, - Đối tượng nghiên - Khái niệm lòng trung thành khu vực (phạm vi) nghiên cứu, khu vực (phạm vi) của hành khách đối với hệ cứu. Các định hướng chính sách, giải pháp phát triển GTCC (34 nghiên cứu) 3 Tổng hợp, nhận xét, đánh giá chung Xác định khoảng trống và nội 4 dung nghiên cứu của luận án Hình 1.2 - Trình tự tổng quan các nghiên cứu liên quan đến luận án 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu về lựa chọn phương thức đi lại Nhìn chung nghiên cứu về lựa chọn phương thức đi lại nói chung được tìm thấy rất phổ biến, từ các nghiên cứu ở những năm 60, 70 cho đến những nghiên cứu gần đây. Các nghiên cứu tập trung vào việc xác định nhân tố tác động đến việc lựa 10 chọn phương tiện đi lại của người dân trên cơ sở dữ liệu sơ cấp (thu thập từ việc khảo sát trực tiếp) hoặc thứ cấp (thu thập từ các nguồn thông tin khác nhau). Các nghiên cứu ở nước ngoài Một số nghiên cứu liên quan điển hình có thể kể đến như sau: - Nghiên cứu của R. Barff và cộng sự (1982) [5] về tổng quan các mô hình lựa chọn phương thức đi lại.
Đây là một trong nhiều nghiên cứu được thực hiện từ rất sớm về tổng hợp, phân tích các nghiên cứu liên quan đến việc lựa chọn phương thức đi lại. Từ đó, xác định mô hình hợp lý và khuynh hướng nghiên cứu đối với các yếu tố tác động đến việc lựa chọn phương thức đi lại nói chung. Kết quả nghiên cứu trên cơ sở phân tích, đánh giá 34 nghiên cứu liên quan từ năm 1962 đến năm 1979 cho thấy, mô hình được sử dụng chủ yếu là mô hình logit (mô hình logit đa thức (MLM - Multinominal Logit Model), mô hình logit nhị phân (BLM - Binary Logit Model)), phương pháp ước lượng được dùng phổ biến, phù hợp là phương pháp khả năng tối đa (ML - Maximum-likelihood). Số lượng các loại phương tiện được xem xét trong nghiên cứu có thể là hai loại (GTCC và phương tiện khác) hoặc nhiều loại phương tiện riêng lẻ (ô tô, xe buýt, tàu điện, …).
Các yếu tố tác động đến việc lựa chọn phương tiện đi lại nói chung gồm có (1) yếu tố liên quan đến đặc điểm của chuyến đi (mục đích chuyến đi), (2) yếu tố liên quan đến đặc điểm của phương tiện (thời gian đi lại, chi phí đi lại, tính thuận tiện, tiện nghi, an toàn, tính tin cậy) và (3) là các yếu tố liên quan đến đặc điểm cá nhân của người sử dụng (sở hữu phương tiện, thu nhập, vị trí địa lý, đặc điểm nhân khẩu xã hội học). Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy có khuynh hướng chuyển đổi từ việc nghiên cứu tác động của các yếu tố vật lý và kinh tế (đo lường trực tiếp) sang các yếu tố về hành vi, nhận thức (các yếu tố trừu tượng hơn và không đo lường trực tiếp mà gián tiếp thông qua bộ thang đo/nhiều câu hỏi). - Bên cạnh các nghiên cứu dạng phân tích, tổng hợp, nhiều nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể hơn cũng được thực hiện. Chẳng hạn như nghiên cứu của nhóm tác giả Kate E.
Tổng số 1385 phiếu khảo sát online 11 được phân chia theo khu vực địa lý trên nguyên tắc thời gian đi xe đạp tối đa 15 phút hoặc thời gian đi bộ tối đa là 60 phút. Bốn phương thức đi lại được đề cập trong nghiên cứu gồm: đi bộ, xe đạp, đường sắt đô thị (HSR-Hamilton Street Rail) và ô tô cá nhân. Mô hình MLM được sử dụng để ước lượng các tham số. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố liên quan đến cá nhân như giới tính, tuổi,.
không có ý nghĩa thống kê; phương thức đi lại mà sinh viên sử dụng đến trường nhiều nhất là đi bộ, tiếp theo HSR và xe ô tô cá nhân, sau cùng là xe đạp. Nghiên cứu cũng lý giải rằng sinh viên ít sử dụng xe đạp để đến trường là do đường đến trường có tốc độ và mật độ xe chạy cao lại không có làn dành riêng cho xe đạp. Về yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn phương thức đi lại, nghiên cứu đưa ra kết luận, thời gian đi lại có ảnh hưởng tiêu cực đối với phương thức đi bộ, không có ý nghĩa thống kê đối với phương tiện HSR, nhưng lại có tác động tích cực với phương tiện ô tô cá nhân và xe đạp. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc cho phép đỗ xe và sở hữu bãi đỗ xe trong trường có ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương tiện ô tô cá nhân đến trường của sinh viên.
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu liên quan khác cũng được tổng hợp thống kê ở Phụ lục 1. Trong đó, một số nghiên cứu được thực hiện ở các nước Châu Á, nơi có nhiều điều kiện tương đồng với Việt Nam như nghiên cứu của tác giả T. Limanond [7] ở Thái Lan, nghiên cứu của R. Ashalatha [8] ở Ấn Độ hay nghiên cứu ở Malaysia của W.
Những nghiên cứu này còn xem xét tác động của các yếu tố đối với việc lựa chọn xe máy, loại phương tiện được xem là khá phổ biến ở các nước đang phát triển và khu vực Châu Á. Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy, tác động đến việc lựa chọn xe máy phải kể đến một số yếu tố gồm độ tuổi, giới tính, thu nhập, sở hữu phương tiện, thời gian đi lại, khoảng cách và chi phí đi lại. Các nghiên cứu trong nước Mặc dù được tìm thấy rất phổ biến ở các nước trên thế giới, ngay từ những năm 60,70 nhưng các nghiên cứu về lựa chọn phương thức đi lại nói chung ở Việt Nam rất ít được quan tâm. Một số ít nghiên cứu được tìm thấy liên quan đến việc lựa chọn phương tiện xe buýt và ý định sử dụng các loại hình phương tiện GTCC trong tương lai như sau: 12 - Nghiên cứu của tác giả N.
Tran [10] về hành vi sử dụng xe buýt ở Hà Nội. Kết quả nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn xe buýt của người sở hữu xe máy. Nghiên cứu đã chứng tỏ việc lựa chọn xe buýt ở Hà Nội của người sở hữu xe máy chịu tác động bởi các yếu tố liên quan đến cá nhân gồm số người đi kèm trong chuyến đi, khoảng cách chuyến đi và tính phức tạp của chuyến đi. Đối với các chuyến đi có khoảng cách càng lớn hoặc ít điểm dừng, người sở hữu xe máy có xu hướng chuyển đổi sang sử dụng xe buýt thay vì sử dụng xe máy.
Các yếu tố khác như thời gian khởi hành của chuyến đi, ngày làm việc trong tuần, điều kiện thời tiết và yếu tố UTGT không ảnh hưởng đến việc lựa chọn xe buýt của người sử dụng xe máy ở Hà Nội. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu chỉ dựa trên cơ sở phân tích dữ liệu khảo sát từ 55 người có sở hữu xe máy thông qua mô hình logit nhị phân (BLM), cần phải có những nghiên cứu kiểm chứng với số lượng mẫu lớn hơn. - Nghiên cứu về ý định sử dụng phương tiện GTCC, đường sắt đô thị (MRT - Mass Rapid Transit) ở Tp.HCM của tác giả Hoàng Lê Quân [11]. Nghiên cứu phân tích những thay đổi về hành vi đi lại của người dân trong bối cảnh phương tiện xe máy phổ biến, thay đổi việc sử dụng xe máy khi phát triển loại hình GTCC mới (MRT), từ đó đánh giá hiệu quả và khả năng đầu tư hệ thống MRT cho thành phố.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng xác định các yếu tố tác động đến việc lựa chọn sử dụng phương tiện MRT trong tương lai.