CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN 1. Các nghiên cứu trên thế giới 1. Các nghiên cứu về hiệu quả sản xuất: Các vấn đề về hiệu quả sản xuất luôn là đề tài được các nhà nghiên cứu quan tâm.
Theo Kaplan (1983), hiệu quả sản xuất của một tổ chức đòi hỏi sự đóng góp từ nhiều bộ phận, trong đó kế toán đóng một vai trò quan trọng. Các nhà nghiên cứu kế toán có thể cố gắng phát triển nghiên cứu về hiệu quả sản xuất thông qua các yếu tố năng suất, chất lượng, hàng tồn kho và chi phí. Các biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất được mở rộng cho các thủ tục ngân sách vốn và giám sát sản xuất bằng cách sử dụng công nghệ mới của các hệ thống sản xuất linh hoạt. Một thách thức trọng tâm hiện tại của các nhà quản lý cấp cao là về các biện pháp tài chính đơn giản, tổng hợp, ngắn hạn và để phát triển các chỉ số phù hợp hơn với khả năng cạnh tranh và lợi nhuận dài hạn.
Năm 1997, Lowe và cộng sự nghiên cứu về hiệu quả sản xuất và thực hành quản lý của 71 nhà cung cấp linh kiện ô tô tại Châu Âu, Nhật Bản và Bắc Mỹ. Sau đó 1 năm, Ettlie (1998) đã tiến hành nghiên cứu về R&D và hiệu quả sản xuất của 600 công ty hàng hóa trên 20 quốc gia. Oliver và cộng sự (2002) nghiên cứu dài hạn về hiệu quả sản xuất, nguyên tắc sản xuất tinh gọn và mối quan hệ giữa người mua và nhà cung cấp trong các ngành công nghiệp ô tô tại Mỹ, Nhật Bản và Anh. Cũng trong thời gian này, Lillis và cộng sự (2002) nghiên cứu về nhiều khía cạnh của hiệu quả sản xuất, dựa trên dữ liệu định tính được thu thập trong các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với 36 nhà quản lý trong các công ty sản xuất ở Victoria, Úc.
Nghiên cứu này tìm cách khám phá các cơ chế được sử dụng để quản lý các yếu tố hiệu quả sản xuất phát sinh từ việc theo đuổi chiến lược lợi nhuận. Cùng nghiên cứu về đề tài hiệu quả sản xuất, năm 2012 Ghosh và cộng sự nghiên cứu về hiệu quả sản xuất tinh gọn tại các công ty sản xuất ở Ấn Độ. Efthymiou và cộng 123doc 8 sự (2014) cùng nhau thực hiện nghiên cứu về độ phức tạp của hệ thống sản xuất thông qua việc đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất. Thông qua các kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy, có nhiều cách thức để tiếp cận với đề tài hiệu quả sản xuất.
Tuy nhiên, nhìn chung các kết quả nghiên cứu trên đều cho thấy hiệu quả sản xuất bị tác động bởi nhiều nhân tố bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp và hiệu quả sản xuất là một yếu tố quan trọng được các nhà quản trị doanh nghiệp chú trọng. Cách tiếp cận về phương pháp đo lường hiệu quả sản xuất theo các nghiên cứu trước đây Đo lường hiệu quả sản xuất đây là một chủ đề gây tranh luận qua nhiều năm. Năm 1974, Skinner cho rằng HQSX được đo lường thông qua 7 yếu tố: chu kỳ giao hàng, chất lượng sản phẩm, độ tin cậy, thời gian giao hàng, sản phẩm mới, tính linh hoạt và chi phí sản xuất. Wheelwright (1978), tập trung vào hiệu quả sản xuất, độ tin cậy, chất lượng sản phẩm, tính linh hoạt và chi phí sản xuất.
Bảy năm sau, Krajewski và cộng sự (1987) xác định 5 nhân tố đo lường hiệu quả sản xuất: chi phí sản xuất, thiết kế hiệu suất cao, phù hợp chất lượng, giao hàng đúng hạn, tính linh hoạt sản phẩm. Trong một đánh giá toàn diện, Leong và cộng sự (1990) cho rằng 5 yếu tố quan trọng nhất để đo lường hiệu quả sản xuất là: chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất, thời gian giao hàng, tính linh hoạt và đổi mới. Cũng trong khoảng thời gian này, Ferdows và Demeyer (1990) tập trung vào 4 khía cạnh: chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm, độ tin cậy và tính linh hoạt. Trong nghiên cứu của Ward và cộng sự (1995 và 1998) cũng phân tích hiệu quả sản xuất thông qua 4 yếu tố: chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm, thời gian sản xuất và tính linh hoạt.
Cũng trong năm đó, Vokurka và cộng sự (1998) cũng đã nghiên cứu thực nghiệm tác động của kỹ thuật sản xuất trên khả năng cạnh tranh của 4 khía cạnh: chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm, tính linh hoạt và thời gian sản xuất. 123doc 9 Cùng cách tiếp cận đo lường HQSX thông qua chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm, tính linh hoạt và thời gian sản xuất như trên, Jayram (1999) tiến hành nghiên cứu tác động của thực hành quản lý nguồn nhân lực đến HQSX. Naor (2006) nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa, thực hành quản lý và HQSX. Tundys (2014) nghiên cứu mô hình đo lường hiệu quả của chuỗi cung ứng thông minh và bền vững.
Bên cạnh việc đo lường hiệu quả sản xuất bằng các nhân tố trên, hiệu quản sản xuất có thể được đo lường bằng mô hình phân tích màng bao dữ liệu DEA. Mô hình này đầu tiên được phát triển bởi Charnes, Cooper và Rhodes năm 1978. Phương pháp này là một phương pháp tiếp cận ước lượng biên. Tuy nhiên, khác với phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier) sử dụng phương pháp kinh tế lượng, DEA dựa theo phương pháp chương trình phi toán học (the non- mathematical programming method) để ước lượng biên sản xuất.
Tuy nhiên, phương pháp này có những nhược điểm như bỏ qua các sai số đo lường và không thể kiểm định giả thuyết đặt ra. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất Có khá nhiều các nghiên cứu trên thế giới về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp như Chow và cộng sự (1991) nghiên cứu về tác động của quản lý kiểm soát và văn hóa quốc gia đến HQSX. Nghiên cứu cung cấp một bài kiểm tra của hệ thống kiểm soát quản lý và văn hóa quốc gia trên HQSX. Văn hóa quốc gia được nghiên cứu theo chủ nghĩa cá nhân bởi vì thuộc tính liên quan đến công việc này.
Đổi lại, việc tập trung nghiên cứu chủ nghĩa văn hóa cá nhân đã thúc đẩy nghiên cứu về các khía cạnh của kiểm soát quản lý. Kết quả là sự kiểm soát quản lý và văn hóa quốc gia không tương tác đến hiệu quả sản xuất. Jayjaram và cộng sự (1999), thực hiện nghiên cứu về tác động của việc quản trị nguồn nhân lực đến hiệu quả sản xuất bằng cách đo lường thông qua bốn khía cạnh của hiệu quả sản xuất: Giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng, tính linh hoạt và việc giảm thiểu thời gian sản xuất. Kết quả cho thấy việc triển khai các gói thực hành quản lý 123doc 10 nguồn nhân lực dành riêng cho chiến lược có một ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả sản xuất cụ thể, kích thước tương ứng của hiệu quả.
Điều này có ý nghĩa chính cho việc xây dựng các chiến lược quản lý nguồn nhân lực tổng thể, phối hợp và liên kết các chiến lược này chiến lược cho mục tiêu cạnh tranh của sản xuất. Palaniswamy và cộng sự (2000), đã chỉ ra rằng các hệ thống hoạch định nguồn nhân lực (ERP) làm tăng hiệu quả của các tổ chức sản xuất. Hệ thống ERP được nghiên cứu trong bài bao gồm: SAP, Baan và Oracle. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống ERP chính là cơ hội để tái cấu trúc doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh trong tương lai và khẳng định đây chính là công cụ sống còn để các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong tương lai.
Một năm sau đó, Narasimhan và cộng sự (2001), đã nghiên cứu về tác động của tính tích hợp và thực hành mua hàng đến hiệu quả sản xuất. Nghiên cứu này giải thích khái niệm tích hợp mua hàng và xem xét mối quan hệ của nó với thực hành mua hàng và hiệu quả sản xuất. Tích hợp mua hàng đề cập đến việc tích hợp mục tiêu mua hàng chiến lược với mục tiêu vững chắc. Các mô hình thay thế liên kết tích hợp mua hàng với thực hành mua hàng và hiệu quả sản xuất được đưa ra giả thuyết và thử nghiệm bằng cách sử dụng dữ liệu thực nghiệm.
Kết quả nghiên cứu, chỉ ra việc tích hợp mua hàng được sử dụng để kiểm duyệt mối quan hệ giữa thực hành mua hàng và hiệu quả sản xuất, và yếu tố này tác động cùng chiều với hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp. Cũng cùng hướng nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hiệu quả sản xuất, Ittner và cộng sự (2002), thực hiện nghiên cứu xem xét mối liên hệ giữa chi phí dựa trên hoạt động và hiệu quả sản xuất. Kết quả nghiên cứu các nhà máy sản xuất cho thấy việc sử dụng ABC rộng rãi có liên quan đến việc nâng cao chất lượng và cải thiện lớn hơn về thời gian và thời gian chu kỳ sản xuất. Bên cạnh đó, gián tiếp tác động đến việc giảm chi phí sản xuất thông qua cải tiến chất lượng và thời gian chu kỳ.
Tuy nhiên, nhìn chung việc sử dụng ABC rộng rãi không có ý nghĩa liên kết với lợi nhuận trên tài sản. 123doc 11 Thay vào đó, chúng tôi tìm thấy bằng chứng cho thấy mối liên hệ giữa ABC và lợi nhuận kế toán phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động của nhà máy. Nahm và cộng sự (2003), đã nghiên cứu về tác động cấu trúc tổ chức đến hiệu quả sản xuất thông qua kích thước cấu trúc. Dựa trên 224 phản hồi từ các công ty sản xuất, nghiên cứu này phát triển các công cụ để đo lường các kích thước phụ của tổ chức sử dụng một phần phản hồi của mẫu này (N = 104) và nó kiểm tra các mối quan hệ cấu trúc với các phản hồi còn lại (N = 120).
Kết quả chỉ ra rằng số lượng các lớp trong hệ thống phân cấp và mức độ tích hợp ngang có ảnh hưởng quan trọng, trực tiếp và tích cực đến nơi ra quyết định và mức độ truyền thông. Nơi ra quyết định và mức độ truyền thông lần lượt có tác động đáng kể, trực tiếp và tích cực đến hiệu quả sản xuất. Yang và cộng sự (2011), nghiên cứu về mối quan hệ giữa sản xuất tinh gọn và môi trường quản lý trong hiệu quả sản xuất kinh doanh. Kết quả cho thấy những kinh nghiệm sản xuất tinh gọn trước đây có liên quan tích cực đến môi trường quản lý.
Chỉ riêng môi trường quản lý có liên quan tiêu cực đến hiệu quả tài chính.