CHƯƠNG 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. CHƯƠNG 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất. CHƯƠNG 3: Phương pháp nghiên cứu. CHƯƠNG 4: Kết quả nghiên cứu.
CHƯƠNG 5: Kết luận và kiến nghị. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT Chương 2 trình bày tổng quan về Trường CĐ CNTĐ, tình hình tuyển sinh của Trường qua các năm và các khái niệm dùng trong nghiên cứu, phân tích đánh giá các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ đề xuất mô hình về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm trực tuyến của SV Khoa TC - KT Trường CĐ CNTĐ.1 Tổng quan về trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức.1 Quá trình hình thành và phát triển: Với phương châm “Luôn đổi mới để phát triển”, hơn 30 năm qua, Nhà trường không ngừng nỗ lực và phấn đấu, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao, nâng cao chất lượng đào tạo, trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa cho Thành phố và cho cả nước. 16 Tiền thân của trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức là Trung tâm Giáo dục Kỹ thuật Tổng hợp và Hướng nghiệp Thủ Đức được thành lập năm 1984, sau chuyển thành Trường Trung học Kỹ thuật và Nghiệp vụ Thủ Đức năm 2002, và chính thức mang tên Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức vào năm 2008, theo Quyết định số 6426/QĐ-BGD-ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Nguồn: Webside của trường CĐ CNTĐ Hình 2.1: Trường Cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức 2.2 Hoạt động đào tạo Hiện nay, với đội ngũ hơn 300 Cán bộ - Giảng viên – Nhân viên giỏi chuyên môn, tâm huyết nhà trường đã tổ chức đào tạo và cung ứng lực lượng lao động có trình độ từ sơ cấp, Trung cấp chuyên nghiệp và Cao đẳng cho địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh - thành trong cả nước. Cụ thể như sau: Bậc cao đẳng chính quy gồm các ngành: 17 Nguồn: Webside của Trường CĐ CNTĐ Hình 2.2: Ngành tuyển sinh bậc cao đẳng của Trường CĐ CNTĐ Bậc TCCN chính quy gồm các ngành: Nguồn: Webside của Trường CĐ CNTĐ Hình 2.3 Ngành tuyển sinh bậc trung cấp của Trường CĐ CNTĐ Thực hiện sứ mạng: “Đào tạo nguồn nhân lực có đạo đức và năng lực, yêu nghề, sáng tạo, biết tự khẳng định giá trị, giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc, có ý thức học tập suốt đời”. Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức luôn chú trọng chất lượng và hiệu quả đào tạo, lấy sản phẩm đào tạo làm thước đo cho uy tín và thương hiệu của Nhà trường, tích cực đẩy mạnh chiến lược chuyên môn hóa các hoạt động gắn kết với doanh nghiệp với mục tiêu: Người học sau khi ra trường đáp ứng được 18 nhu cầu của doanh nghiệp trong và ngoài nước. Nhà trường luôn tạo dựng nhiều sân chơi học thuật thú vị, sôi nổi nhằm giúp học sinh sinh viên rèn luyện tay nghề, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp như: hội thi Kế toán viên giỏi, Hướng dẫn viên du lịch giỏi, Thợ trẻ cơ khí giỏi nghề… Không dừng lại ở đó, HSSV Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức không ngừng nỗ lực, vươn xa và khẳng định mình ở các sân chơi học thuật lớn hơn do Thành đoàn TP.
Hồ Chí Minh tổ chức.2 Tổng quan về Khoa Tài chính – Kế toán Trường Cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức. Khoa Tài chính - Kế toán Trường CĐ CNTD được thành lập từ năm 2008, đến nay khoa đã thực hiện tuyển sinh được 11 khóa đào tạo Bậc Cao đẳng và Bậc Trung cấp các ngành Kế toán, Kế toán doanh nghiệp và Tài chính ngân hàng Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, Khoa Tài chính – Kế toán đã không ngừng phấn đấu trong đào tạo; gắn kết doanh nghiệp và cơ hội việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp. Với mục tiêu là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thuộc lĩnh vực kế toán, tài chính ngân hàng cho Thành phố Hồ Chí Minh và cả nước, có đủ kiến thức, kỹ năng, đáp ứng phù hợp với các vị trí: kế toán viên, kế toán tổng hợp, kế toán trưởng, giao dịch viên, cán bộ tín dụng tại các ngân hàng thương mại các tổ chức tài chính, đơn vị hành chính sự nghiệp… Khoa TC – KT có đội ngũ giảng viên đạt chuẩn, có năng lực chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm thực tiễn, say mê công tác nghiên cứu và giảng dạy. Liên tục trong nhiều năm qua, giảng viên của khoa đều đạt thành tích cao tại Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp thành phố và quốc gia.
Khoa được đầu tư trang thiết bị đáp ứng đủ điều kiện giảng dạy và học tập với các phòng học lý thuyết khang trang, hiện đại. Bên cạnh đó, sinh viên khoa TC - KT còn có các giờ thực hành thú vị tại các phòng mô phỏng hiện đại, mô phỏng theo mô hình hoạt động thực tế tại doanh nghiệp. Tại đây, sinh viên được thực hành trên chứng từ thật của một số doanh nghiệp được khoa xin phép sử dụng đưa vào giảng dạy. Đối với ngành Tài chính ngân hàng: sinh viên được thực tập các công việc thực tế tại các ngân hàng đã tham gia ký kết với nhà trường.
Khoa TC – KT liên tục cập nhật, cải tiến chương trình đào tạo phù hợp với xu thế và mục tiêu nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Hiện nay, khoa đã và đang 19 từng bước thực hiện việc đổi mới chương trình đào tạo ngành theo hướng tiếp cận năng lực nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và theo chuẩn khu vực Đông Nam Á. Ngoài ra, Khoa thường xuyên tiếp các đoàn công tác của trường bạn sang giao lưu và học tập trong lĩnh vực đào tạo ngành tài chính ngân hàng, kế toán. Mở rộng mối quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp và ngân hàng trên địa bàn Thành phố và các khu vực lân cận.
Tổ chức các đợt đưa SV đến doanh nghiệp tham gia học kỳ doanh nghiệp, tại đây SV vừa học tập và làm việc như một nhân viên thực thụ. Ngoài các giờ thực hành thường xuyên tại lớp, SV còn được tham gia vào sân chơi học thuật “Kế toán viên giỏi” thú vị được tổ chức hàng năm. Nhiều năm qua, SV của khoa cũng liên tục đạt được thành tích cao tại hội thi “Học sinh giỏi nghề” cấp Thành phố, góp phần khẳng định thế mạnh và chất lượng đào tạo của khoa đối với xã hội. Sau khi hoàn thành chương trình học, SV của khoa được hỗ trợ giới thiệu nơi thực tập và làm việc.
Hầu hết SV của khoa ra trường làm việc đúng chuyên ngành, với các vị trí: kế toán viên, kế toán tổng hợp. Nhiều SV có việc làm chính thức ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Cụ thể các em SV được các ngân hàng tổ chức thi tuyển tiếp nhận thực tập và nhận vào làm việc ngay sau khi tốt nghiệp 2.3 Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm về Ý định Theo Krueger (2017) thì Ý định (intentions) là trạng thái nhận thức ngay trước khi thực hiện một hành vi. Theo Ajzen và Fishbein (1975) thì Ý định liên quan đến bốn thành phần khác nhau: Hành vi (behavior), mục tiêu (target): vấn đề chủ thể nhắm đến, tình trạng (situation): mà hành vi đang thực hiện, thời điểm (time): là hành vi đang diễn ra.
Theo Ajzen (1991) thì ý định là dấu hiệu của một cá nhân có khả năng thực hiện một hành vi đặc biệt và nó là tiền đề của hành vi. Ý định có thể được sử dụng như là nhân tố tốt nhất để dự đoán hành vi. Theo Fishbein (1967) trong Thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) thì trong mô hình TRA, các cá nhân có thái độ và động lực trong quá trình ra quyết định của họ và đưa ra sự lựa chọn hợp lý giữa các giải pháp, thì cách 20 tốt nhất để phán đoán hành vi là ý định và hành vi được xác định bởi ý định thực hiện hành vi. Theo thuyết dự định hành vi (TPB) thể hiện được ý định hành vi là hành động của một cá nhân bị tác động bởi ba yếu tố gồm niềm tin vào hành vi, niềm tin vào chuẩn mực và niềm tin vào sự kiểm soát.
Các niềm tin này càng mạnh mẽ thì ý định thực hiện hành động của cá nhân đó càng lớn.2 Khái niệm về mua sắm trực tuyến Mua sắm trực tuyến (Online shopping) là quá trình người tiêu dùng trực tiếp mua hàng hóa, dịch vụ từ một người bán trong thời gian xác định thông qua Internet mà không có một dịch vụ trung gian nào. Mua sắm trực tuyến cũng là một tiến trình dùng để liệt kê hàng hóa và dịch vụ cùng với hình ảnh kèm theo được hiển thị từ xa thông qua các phương tiện điện tử. Khi sản phẩm hoặc dịch vụ được chọn, giao dịch sẽ được thực hiện một cách tự động bằng việc thanh toán trực tuyến hoặc thanh toán bằng tiền mặt. Theo Monsuwe và cộng sự (2004) thì mua sắm trực tuyến là hành vi của người tiêu dùng trong việc mua sắm thông qua các cửa hàng trên mạng hoặc website sử dụng các giao dịch mua hàng trực tuyến.
Theo Haubl và Trifts (2000) thì mua sắm trực tuyến là đề cập đến giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ được thực hiện bởi người tiêu dùng thông qua giao diện trên máy tính của người tiêu dùng được kết nối tương tác với các cửa hàng số hóa của nhà bán lẻ. Theo Mastercard Worldwide Insights (2008) thì mua sắm trực tuyến là quá trình mua hàng hóa và dịch vụ từ các nhà cung cấp bán qua internet và cũng được biết đến với các tên gọi khác là mua hàng qua internet, mua sắm điện tử, mua hàng trực tuyến hoặc mua sắm qua internet. Theo Kim (2004) thì mua sắm trực tuyến là việc xem xét, tìm kiếm, duyệt hoặc xem một sản phẩm để có thêm thông tin với ý định mua hàng trên Internet. 21 Theo Chiu và cộng sự (2009) thì mua sắm trực tuyến là sự trao đổi thời gian, công sức và tiền bạc để nhận được sản phẩm hoặc dịch vụ.
Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu là ý định mua sắm trực tuyến nên đề tài sẽ sử dụng các cơ sở lý thuyết sau đây.1 Lý thuyết hành động hợp lý TRA – Theory of Reasoned Action Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ cuối thập niên 60 của thế kỷ 20 và được hiệu chỉnh mở rộng trong thập niên 70. Theo TRA, yếu tố quan trọng nhất quyết định hành vi của con người là ý định thực hiện hành vi đó.