MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Tại hội nghị về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc năm 2015 (COP 21), 195 quốc gia tham gia đã ký thỏa thuận Paris về giảm thiểu biến đổi khí hậu, đạt được đồng thuận hạn chế sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu xuống dưới 2oC trên mức tiền công nghiệp (pre-industrial levels). Để đạt được các mục tiêu dài hạn về khí hậu như vậy, nhiều quốc gia đã nỗ lực thúc đẩy phát triển công nghiệp xanh và đổi mới xanh (Yu và cộng sự 2021). Điều đó cho thấy, bảo vệ môi trường (BVMT) và chống biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề cấp thiết trong xã hội hiện đại ngày nay.
Ở cấp độ toàn cầu, thế giới đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để kiểm soát ô nhiễm và chống lại sự nóng lên toàn cầu đồng thời phải đảm bảo phát triển kinh tế, trong đó công cụ tài chính xanh (green finance) hay còn gọi là tài chính môi trường (environmental finance) đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh hiện nay (Campiglio 2016). Các cơ chế tài chính xuyên quốc gia được thành lập nhằm mục đích hỗ trợ tài chính cho bảo vệ môi trường thông qua các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Môi trường toàn cầu (Global Environment Facility), Quỹ khí hậu xanh (Green Climate Fund), Quỹ thích ứng (Adaption Fund) (Azhgaliyeva và Liddle 2020). Ở cấp độ quốc gia, các nước cũng đề ra những biện pháp và chính sách khác nhau nhằm hỗ trợ công tác BVMT và phát triển xanh. Ngoài các công cụ hỗ trợ chính sách và kiểm soát bằng các quy định pháp luật, công cụ tài chính cũng đóng vai trò rất quan trọng.
Quỹ Bảo vệ môi trường (Environment Fund) là một trong những tổ chức tài chính được thành lập và hoạt động tại các quốc gia với mục đích ngăn chặn và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển xanh bền vững. Quỹ BVMT là tổ chức tài chính nhà nước, là một trong những kênh dẫn vốn chính nhằm giải quyết những hạn chế của thị trường trong việc thiếu hụt các nguồn vốn cho đầu tư bảo vệ môi trường (Akihisa 2008; OECD 2015; 2018; Oh và Kim 2018). Phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài chính, các quốc gia giới thiệu các công cụ hỗ trợ tài chính phù hợp đối với các Quỹ BVMT. Đối với các quốc gia có nền kinh tế phát triển, công cụ hỗ trợ lãi suất và tài trợ không hoàn lại là một trong những công cụ chính cho tài chính xanh.
Trong khi đó, cho vay ưu đãi bảo vệ môi trường là công cụ hỗ trợ tài chính môi trường quan trọng của các nước nghèo hơn, đang trong thời kỳ phát triển (Hossain 2018; Park và Kim 2020). Lấy bối cảnh Việt Nam hiện nay là một nền kinh tế mới nổi tại Châu Á, với tốc độ phát triển công nghiệp hóa cao, nhưng sự phát triển của thị trường tài chính còn nhiều hạn chế (Bui 2020). Vì vậy, môi trường chịu tác động và áp lực lớn về ô nhiễm, suy thoái và biến đổi khí hậu. Để chống lại các tác động tiêu cực này, nhà nước đã ban hành 12 luan an chính sách tài chính nhằm mục đích hỗ trợ các dự án bảo vệ môi trường thông qua hình thái tổ chức tài chính gọi là Quỹ BVMT, được giới thiệu đầu tiên vào năm 2002 thông qua Luật Bảo vệ môi trường.
Quỹ BVMT là tổ chức tài chính nhà nước và là kênh dẫn vốn chính cho hoạt động đầu tư bảo vệ môi trường tại Việt Nam hiện nay. Cho vay với lãi suất ưu đãi là một trong những công cụ tài chính chủ yếu của Quỹ BVMT, chiếm hơn 95% kết quả hoạt động. Hiện nay, hệ thống các Quỹ BVMT tại Việt Nam với số lượng là 48 Quỹ, trong đó có 01 Quỹ BVMT cấp quốc gia (Quỹ BVMT Việt Nam) và 47 Quỹ BVMT cấp địa phương (Quỹ BVMT cấp tỉnh). Tuy nhiên, trong số này chỉ có 26 Quỹ BVMT đã đi vào hoạt động cho vay ưu đãi bảo vệ môi trường (Duong TPA và Le HL 2021).
Nguồn tài chính từ các Quỹ BVMT chỉ dành riêng hỗ trợ cho các dự án liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển xanh và chống biến đổi khí hậu. Theo báo cáo của Climate Bonds Initiative, nhu cầu cho đầu tư xanh chống biến đổi khí hậu cũng như đầu tư bảo vệ môi trường tại Việt Nam là rất lớn trong khi đó sự thiếu hụt lớn về tài chính cho hoạt động này là hiện hữu (Kristiane và cộng sự 2020). Các ngân hàng thương mại đã bước đầu chú ý đến việc tài trợ cho các dự án bảo vệ môi trường thông qua các danh mục xanh nhưng vẫn còn rất nhiều hạn chế với lý do các ngân hàng chưa quen thuộc với danh mục đầu tư xanh cũng như các dự án bảo vệ môi trường thường tiềm ẩn nhiều rủi ro và khả năng mất vốn lớn (Barbu và Boitan 2019; Chen và cộng sự 2019; T. Nguyen, Chuc và Dang 2018).
Điều này cho thấy, các Quỹ BVMT ngày càng đóng vai trò quan trọng cũng như là một trong những tổ chức có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động tài chính môi trường. Câu hỏi đặt ra là với điều kiện lãi suất ưu đãi như vậy thì nhân tố nào ảnh hưởng tới việc các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ các Quỹ BVMT? Các doanh nghiệp đầu tư các dự án bảo vệ môi trường có thể đối mặt với các rào cản nào khi tiếp cận nguồn vốn từ các Quỹ BVMT? Thông qua việc tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi trên, nghiên cứu sinh nhận thấy rằng các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào đánh giá các nhân tố ảnh hưởng trong việc tiếp cận tài chính hoặc tiếp cận vốn vay nói chung của doanh nghiệp đối với các nguồn vốn chính thức hoặc phi chính thức. Đối với đánh giá việc tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi thì các nghiên cứu tập trung vào các hoạt động cho vay ưu đãi xóa đói giảm nghèo, cho vay ưu đãi sinh viên nhưng theo hiểu biết của nghiên cứu sinh thì chưa có nghiên cứu nào liên quan đến việc đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tài chính xanh hoặc vay vốn ưu đãi cho bảo vệ môi trường (P. Nguyen và cộng sự 2018; N.
Nguyen và Luu 2013). Các nghiên cứu về Quỹ BVMT thì lại chỉ tập trung vào việc đánh giá về cơ chế, chính sách và hiệu quả hoạt động hỗ trợ tài chính nói chung, vai trò và hoạt động cho vay ưu đãi nói riêng (Francis 2000; Patrick Francis, Jürg Klarer và Nelly Petkova 1999; Mason, 13 luan an Clive H. 2015; Speck và cộng sự 2001). Trong khi hoạt động cho vay ưu đãi bảo vệ môi trường lại có một số yếu tố đặc trưng riêng biệt như chính sách cho vay với lãi suất ưu đãi (< 50% lãi suất thị trường), các dự án vay vốn là dự án liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường và phát triển xanh, tổ chức cho vay ưu đãi là các tổ chức tài chính nhà nước.
Vì vậy, có thể thấy rằng tiếp cận vốn vay ưu đãi bảo vệ môi trường cũng có thể có một số đặc trưng khác biệt so với tiếp cận tài chính và tiếp cận vốn vay nói chung. Trong khi ngày càng nhiều quốc gia sử dụng Quỹ BVMT như là kênh dẫn vốn chính cho hoạt động hỗ trợ tài chính bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu thì các câu hỏi nêu trên ngày càng trở nên cấp thiết và cần phải được làm rõ. Việc đánh giá các nhân tố ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng và nhận diện các rào cản trong việc tiếp cận vốn vay ưu đãi bảo vệ môi trường có ý nghĩa quan trọng. Đây là cơ sở để thúc đẩy hoạt động bảo vệ môi trường và hướng tới phát triển bền vững thông qua các đề xuất hàm ý chính sách phù hợp hơn đối với các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn BVMT, các Quỹ BVMT và các chính sách hỗ trợ BVMT của nhà nước.
Ngoài ra, cũng chưa có một nghiên cứu nào đánh giá một cách tổng thể và toàn diện thực trạng hoạt động cho vay ưu đãi của các Quỹ BVMT tại Việt Nam. Vì lẽ đó, việc thực hiện nghiên cứu với đề tài “Nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận vốn vay ưu đãi của doanh nghiệp tại các Quỹ Bảo vệ môi trường ở Việt Nam” là hoàn toàn cần thiết. Tổng quan tình hình nghiên cứu Việc nắm bắt cơ sở lý thuyết đối với nội dung liên quan đến nghiên cứu của luận án là hết sức cần thiết. Theo đó, định hướng nghiên cứu của luận án tập trung vào hoạt động cho vay ưu đãi và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận vốn vay ưu đãi của các doanh nghiệp tại các Quỹ BVMT.
Tuy nhiên, theo hiểu biết của nghiên cứu sinh, cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào trong và ngoài nước thực hiện việc đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới việc tiếp cận vốn vay ưu đãi của doanh nghiệp tại các Quỹ BVMT. Vì vậy, nghiên cứu sinh thực hiện tổng quan tình hình nghiên cứu của 02 nội dung chính bao gồm (1) Hoạt động hỗ trợ tài chính nói chung và cho vay ưu đãi nói riêng tại các Quỹ BVMT và các tổ chức tài chính có liên quan và (2) Các nhân tố ảnh hưởng trong việc tiếp cận vốn vay nói chung của các doanh nghiệp. Để từ đó, hình thành nên các phương pháp nghiên cứu đối với luận án. Tình hình nghiên cứu về hoạt động cho vay ưu đãi bảo vệ môi trường Hoạt động hỗ trợ tài chính nói chung và cho vay ưu đãi bảo vệ môi trường là chủ đề nghiên cứu ngày càng trở nên phổ biến hơn và được các nhà khoa học quan tâm.
Đặc biệt là trong bối cảnh các tổ chức quốc tế, các quốc gia phát triển và đang phát triển trên 14 luan an thế giới ngày càng tập trung vào việc thúc đẩy và hỗ trợ công tác bảo vệ môi trường, tạo lập các cơ chế và chính sách tài chính thuận lợi hơn cho công tác đầu tư bảo vệ môi trường, chuyển đổi nền kinh tế phát thải các bon thấp, kinh tế tuần hoàn, hướng tới phát triển bền vững, chống biến đổi khí hậu. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung đánh giá tổng thể hoạt động của các Quỹ BVMT trong đó hoạt động cho vay được xem như là một hoạt động hỗ trợ tài chính.