CHƯƠNG 1 Chương này trình bày tóm tắt về đề tài nghiên cứu, lý do chọn đề tài; câu hỏi nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu đối tượng và phạm vi nghiên cứu và số liệu tương ứng với từng câu hỏi nghiên cứu. Đề tài chọn cách sử dụng phần mềm thống kê để phân tích định lượng, kết quả mô hình sẽ được so sánh với các mô hình của các nghiên cứu trước đây, nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến KNSL của các NHTM tại Việt Nam. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Hiệu quả hoạt động Theo (Peter S.
Rose, 2004), dựa trên lý thuyết thì “giá trị thị trường của cổ phiếu là chỉ số tốt nhất phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của công ty bởi vì nó thể hiện sự đánh giá của thị trường đối với công ty đó”. Tuy nhiên chỉ số này được xem là có độ tin cậy không cao trong lĩnh vực ngân hàng.“Vì hầu hết cổ phiếu ngân hàng, đặc biệt là cổ phiếu của các ngân hàng nhỏ không được giao dịch tích cực trên thị trường.”Do đó, dựa trên thực tế này buộc các nhà phân tích tài chính phải sử dụng các tỷ lệ về KNSL để thay thế cho chỉ số giá trị thị trường. Trong nhóm các tỷ số về KNSL là ROA. ROA là tỷ số thu nhập ròng trên tài sản (Return on total assets).
ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng. Công thức tính của ROA là: ROA = Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản. ROA cung cấp cho nhà đầu tư và nhà quản trị thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản) trong khi đó nguồn hình thành tài sản của ngân hàng bao gồm cả vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn này đều được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh của NHTM.
Hiệu quả của việc chuyển tất cả nguồn vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua chỉ tiêu ROA. ROA càng cao thì KNSL càng cao vì ngân hàng đang mang về nhiều lợi nhuận hơn trên lượng đầu tư ít hơn. Hay nói cách khác, ROA cao cho thấy ngân hàng sử đã dụng một cơ cấu tài sản hợp lý, chính sách kinh doanh và đầu tư tài sản hiệu quả. Ngược lại, ROA thấp là kết quả của một chính sách đầu tư và cho vay không hiệu quả hoặc ngân hàng đã chi quá nhiều chi phí hoạt động.
Nếu một NH không thu được lợi nhuận nhiều hơn số tiền mà họ đã bỏ ra để chi cho các hoạt động đầu tư, thì đó không phải là một dấu hiệu tốt. Nhưng ngược lại, nếu ROA mà cao hơn chi phí vay hay chi phí huy động vốn thì có nghĩa là các NHTM đang có KNSL cao hay nói cách khác là NH đang bỏ túi một món hời lớn. Chính vì thế, việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tại các NHTM là một bước hết sức quan trọng đối với các nhà đầu tư cũng như các nhà quản trị. 8 Nền tảng cho lý thuyết dựa trên nghiên cứu của (Pasiouras, Sifodaskalakis, & Zopounidis, 2007) với phạm vi nghiên cứu là 16 ngân hàng trong giai đoạn 2000- 2004.
Nghiên cứu sử dụng phân tích bao dữ liệu (DEA) để ước tính hiệu quả kỹ thuật, phân bổ và chi phí cho từng ngân hàng tại Greek. Mô hình DEA được sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu để đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của các chủ thể trong kinh tế với nhiều ngành kinh tế khác nhau trong đó có ngành ngân hàng. Với sự vận dụng mô hình DEA, có thể xếp hạng các NH theo từng loại hiệu quả (hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả quy mô…); đánh giá được mức độ, khả năng hoạt động hiện tại của NH thông qua việc xem xét các thay đổi theo quy mô của từng NH. Sau đó, sử dụng hồi quy Tobit để xác định tác động của các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả của các NHTM.
Cơ sở lý thuyết dựa trên nghiên cứu của (Adusei, 2015), nghiên cứu đã đánh giá khả năng sinh lời của các NHTM với dữ liệu từ ngành ngân hàng ở Ghana. Kiểm soát rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, đa dạng hóa mô hình kinh doanh, khả năng sinh lời, lạm phát, cơ cấu tài chính và tổng sản phẩm quốc nội, kết quả cho thấy việc tăng quy mô của ngân hàng nông thôn sẽ làm tăng tính ổn định của ngân hàng. Kết quả cũng cho thấy rủi ro tài trợ tác động tích cực đến sự ổn định của ngân hàng. Mối quan hệ tích cực giữa quy mô và sự ổn định của ngân hàng có tác động quan trọng đến cuộc tranh luận hiện tại về việc có nên hạn chế quy mô ngân hàng để cách ly hệ thống tài chính khỏi khủng hoảng trong tương lai hay không.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng Hiệu quả hoạt động của ngân hàng được đo lường thông qua tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và thu nhập lãi cận biên (NIM). Đây là ba chỉ tiêu phổ biến đại diện cho thước đo về khả năng sinh lời của ngân hàng. Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản – ROA ROA (viết tắt của Return on Assets) – gọi là tỷ số lợi nhuận trên tài sản, là một chỉ số đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng. ROA sẽ cho 9 biết hiệu quả của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời.
Công thức của ROA là: ROA = LỢI NHUẬN SAU THUẾ / TỔNG TÀI SẢN ROA phản ánh năng lực quản trị của ngân hàng trong việc sử dụng tài chính và những nguồn vốn thực sự đem lại lợi nhuận. Chỉ số ROA cho biết cứ một trăm đồng tài sản hiện có thì bao nhiêu đồng lợi nhuận được mang lại. Chỉ số này cho biết thông tin về khoản lãi được tạo ra từ số tài sản trong doanh nghiệp hay nói cách khác nhà đầu tư sẽ thấy được doanh nghiệp kiếm được bao nhiêu tiền lãi trên 1 đồng tài sản. ROA được các nhà quản trị tin rằng đây là phương pháp tốt nhất để đo lường KNSL của ngân hàng, bởi vì ROA đối với những trung gian tài chính như NHTM thì thấp hơn hầu hết các doanh nghiệp phi tài chính.
Trong nghiên cứu của (Samad, 2015) về “Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của 42 ngân hàng thương mại tại Bangladesh”, tác giả đã sử dụng chỉ tiêu ROA đại diện cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Bên cạnh đó (Sufian, 2011) cũng đã sử dụng chỉ tiêu ROA để đánh giá khả năng sinh lời của NHTM trong nghiên cứu của mình. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu – ROE Return On Equity (ROE) hay lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là chỉ số đo lường mức độ hiệu quả của việc sử dụng vốn chủ sở hữu và được tính bằng công thức: ROE = LỢI NHUẬN SAU THUẾ/ TỔNG VỐN CHỦ SỞ HỮU Chỉ số ROE cho thấy với 1 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra thì ngân hàng sẽ thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROE cho thấy khả năng mức độ sinh lời được tính trên giá trị sổ sách của vốn sở hữu đầu tư vào ngân hàng.
Bên cạnh đó ROE cũng phản ánh doanh thu, hiệu quả hoạt động mà ngân hàng đạt được. ROE thể hiện mức độ sử dụng vốn hiệu quả của doanh nghiệp. ROE càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp đang vận hành tốt, và các nhà lãnh đạo đã sử dụng vốn một cách hiệu quả. Trong nghiên cứu của (Gul, Irshad, & Zaman, 2011) nhóm đã giả đã sử dụng cả hai chỉ tiêu ROA và ROE để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời 10 của các NHTM.
Nghiên cứu của (San & Heng, 2013) cũng lấy ROE làm chỉ tiêu đánh giá KNSL của các NHTM tại Malaysia trong giai đoạn 2003 – 2009. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên – NIM NIM (Net Interest Margin) là sự chênh lệch phần trăm giữa thu nhập lãi và chi phí lãi phải trả của ngân hàng, cho biết hiện các ngân hàng đang thực sự hưởng chênh lệch lãi suất giữa hoạt động huy động và hoạt động đầu tư tín dụng là bao nhiêu và được tính bằng công thức: NIM = THU NHẬP LÃI THUẦN/ TÀI SẢN SINH LÃI Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là thước đo tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh cũng như KNSL của NHTM. Chỉ số này chỉ ra năng lực của các nhà quản trị và nhân viên ngân hàng về việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu là thu từ các khoản cho vay, đầu tư và phí dịch vụ) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ). Tỷ lệ NIM cao là một dấu hiệu quan trọng cho thấy ngân hàng đang thành công trong việc quản lý tài sản và nợ.
Ngược lại, NIM thấp sẽ cho thấy ngân hàng đang gặp phải khó khăn trong việc tạo lợi nhuận. Trong nghiên cứu của (Hamadi & Awdeh, 2012), nhóm tác giả đã sử dụng chỉ tiêu NIM để đánh giá “Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM tại Lebanon trong giai đoạn 1996 – 2009”. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của NH có thể được chia làm hai nhóm:“nhóm nhân tố khách quan và nhóm nhân tố chủ quan, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng ngân hàng mà hai nhóm nhân tố này có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả hoạt động của chính các NHTM.1 Nhóm nhân tố khách quan Môi trường về kinh tế, chính trị và xã hội trong và ngoài nước: Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính. Một trong những chức năng quan trọng của các NHTM là làm cầu nối giữa đầu tư với tiết kiệm của nền kinh tế, vì vậy những biến động của môi trường kinh tế, chính trị và xã hội có 11 những tác động, ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Nếu môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trong và ngoài nước ổn định sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các NHTM.