Chương 1 trình bày các lý thuyết có liên quan đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình như lý thuyết vốn con người, mô hình đầu tư giáo dục của cha mẹ cho trẻ em, vai trò của giáo dục. Các nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu cũng được nêu lên cùng với khung phân tích cho mối quan hệ giữa chi tiêu giáo dục và các biến độc lập trong mô hình như tổng chi tiêu của hộ gia đình, giới tính chủ hộ, tuổi chủ hộ, trình độ học vấn chủ hộ, tình trạng hôn nhân của chủ hộ, dân tộc của chủ hộ, quy mô hộ gia đình, số thành viên theo học của hộ, khu vực sinh sống thành thị - nông thôn và khu vực theo vùng miền địa lý của hộ, sau cùng là sơ đồ cho khung phân tích để mô tả mối quan hệ tác động và nhận xét mặt tích cực của khung phân tích so với các nghiên cứu trước.1 Tổng quan lý thuyết 1.1 Các khái niệm Theo hệ thống tài khoản quốc gia 1993 (System of National Accounts 1993 - SNA) thì hộ gia đình là một nhóm người nhỏ cùng chia sẽ chổ ở sinh hoạt, cùng chung một số vốn góp hoặc tất cả thu nhập và của cải, họ là những người cùng tiêu thụ một số loại hàng hóa và dịch vụ chung mà chủ yếu là nhà ở và thực phẩm. Chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ được định nghĩa là giá trị số tiền mà người mua phải trả hoặc đồng ý trả tiền cho người bán hàng để đổi lấy hàng hóa hay dịch vụ hoặc cho các đơn vị tổ chức khác (SNA 1993). Bên cạnh theo OECD (2014) chi tiêu hộ gia đình là số tiền chi tiêu tiêu dùng cuối cùng được thực hiện bởi các thành viên thường trú của hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu hàng ngày của họ, chẳng hạn như thực phẩm, quần áo, nhà ở thuê, năng lượng, vận tải, hàng hóa lâu bền, chi phí y tế, giải trí, và các dịch vụ khác.
Vốn con người được xem là những kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng tích lũy trong quá trình giáo dục, đào tạo và cuộc sống lao động. Cụ thể, vốn con người được cấu thành từ 3 thành tố chính: (1) khả năng bẩm sinh hay năng lực ban đầu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 của cá nhân khi sinh ra; (2) trình độ chuyên môn và kiến thức tích lũy thông qua giáo dục chính thức; và (3) kỹ năng, năng lực và kinh nghiệm có được từ công việc (Blundell, R. Bùi Quang Bình (2009) cho rằng năng lực ban đầu được thừa hưởng từ duy truyền cha mẹ và sự chăm sóc thai nhi gắn liền với điều kiện kinh tế gia đình, sự cấu thành cho yếu tố thứ hai là quá trình đầu tư giáo dục cho trẻ của cha mẹ thông qua chi tiêu giáo dục, yếu tố thứ 3 là quá trình tự tích lũy của bản thân cá nhân trong cuộc sống. Do đó năng lực ban đầu và trình độ chuyên môn được xem là nền tảng cho năng lực và kinh nghiệm trong cuộc sống.
Theo Bùi Quang Bình (2009) vốn con người là vốn vô hình, khác biệt với các loại vốn khác là không thể bán hoặc thế chấp, và đặc biệt nó không thể tách rời khỏi cá nhân hình thành nên vốn, do đó trong quá trình đầu tư tích lũy vốn con người, nếu không cập nhật những kiến thức thường xuyên và tích lũy kinh nghiệm thì vốn con người có thể bị hao mòn bởi yếu tố khách quan như kiến thức mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật và yếu tố chủ quan như sự quên lãng kiến thức của cá nhân. Trong khi Becker, G. (1964) cho rằng vốn con người như một phương tiện vật chất của sản xuất, có hữu dụng trực tiếp và làm tăng năng suất lao động, tất cả các hoạt động có ảnh hưởng đến thu nhập thực tế trong tương lai đều thông qua đầu tư các nguồn lực trong con người, hơn nữa đầu tư vào vốn con người giống như đầu tư vào vốn vật chất nhằm khai thác tỷ suất lợi nhuận trong tương lai, những yếu tố như giáo dục, đào tạo và sức khỏe được xem như các khoản đầu tư quan trọng nhất trong vốn con người. Hơn nữa lý thuyết vốn con người có ý tưởng cho rằng dù có hay không có liên quan đến chi phí và lợi ích đầu tư thì các quyết định vẫn được phân tích theo kinh tế tư nhân và kinh tế công cộng (Mincer, J.
Hành vi quyết định chi tiêu của hộ gia đình Hành vi tiêu dùng của hộ gia đình phần lớn bắt nguồn từ quyết định mua hàng của hộ gia đình, theo đó quyết định này được thực hiện từ một hay một số cá nhân hoặc tất cả thành viên của hộ (Sheth, J. Hộ gia đình sẽ dùng phần thu nhập có được để chi tiêu cho một số hàng hóa nhằm tối đa hóa hữu dụng, trong đó giáo dục được xem là hàng hóa tiêu dùng trong hiện tại và tương lai nên chi tiêu giáo dục TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 được hộ gia đình xem xét là kênh đầu tư cho tương lai trẻ. Một trong các phương pháp đo lường cho phân tích chi phí và lợi ích của giáo dục là số tiền tiêu dùng cho giáo dục, trong đó chi phí giáo dục của tư nhân bao gồm chi phí trực tiếp cho sách vỡ, học phí…và chi phí gián tiếp như thu nhập bị bỏ qua trong quá trình học, bên cạnh là lợi ích có được ở hiện tại và tương lai từ giáo dục mang lại. Như vậy chi tiêu giáo dục của hộ gia đình là một trong những hình thức tiêu dùng và đầu tư của hộ thông qua sự cân nhắc có hay không và đến mức độ nào trong tổng số tiền chi tiêu giáo dục nhằm thỏa mãn hữu dụng tối đa.2 Đầu tƣ vốn con ngƣời Mô hình đầu tƣ vốn con ngƣời của cha mẹ cho trẻ Theo Yueh (2001) cuộc sống của mỗi cá nhân trãi qua 3 giai đoạn, giai đoạn đầu là một đứa trẻ, sau là một người trưởng thành đã có con và cuối cùng là một người già nghĩ hưu đã có cháu.
Cụ thể, giai đoạn đầu tiên lợi ích mang lại cho cá nhân là sự đầu tư giáo dục của cha mẹ, giai đoạn thứ hai, lúc này cá nhân là cha mẹ có khả năng làm việc tạo thu nhập, khi đó một phần thu nhập được phân phối trở lại cha mẹ họ và một phần đầu tư giáo dục cho con của họ. Giai đoạn thứ 3, họ là những người về hưu, thu nhập của họ có được từ lợi nhuận của tài sản được tích lũy ở giai đoạn 2 và một phần thu nhập được phân phối lại từ con của họ. Khi đó cha mẹ sẽ giảm các khoản chi tiêu cơ bản và quyết định đầu tư vào vốn con người qua chi tiêu giáo dục trẻ được thúc đẩy bởi lợi nhuận từ thu nhập tương lai của trẻ và thu nhập của gia đình vợ chồng trẻ. Hiển nhiên cha mẹ không đầu tư giáo dục vào vợ hoặc chồng của con họ, nhưng thu nhập của họ nhận được trong giai đoạn 3, có được từ sự phân phối một phần thu nhập tương lai trong gia đình vợ chồng trẻ.
Như vậy, đầu tư giáo dục mang lại cho cha mẹ hai lợi ích, lợi ích trực tiếp có được từ sự phân phối thu nhập tương lai của trẻ lúc trưởng thành, lợi ích gián tiếp có được khi trẻ được đầu tư giáo dục tốt thì trình độ học vấn tốt nên khả năng kết hôn với người có thu nhập cao sẽ tăng, từ đó tạo ra thu nhập tương lai tốt hơn cho gia đình vợ chồng trẻ cũng như phần thu nhập phân phối cho cha mẹ ở giai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 đoạn thứ 3 sẽ nhiều hơn. Năng suất từ khoản đầu tư giáo dục của cha mẹ thường không ổn định như các hình thức đầu tư tài sản khác bởi con người phải luôn cập nhật những kiến thức mới, tích lũy kỹ năng hàng ngày để có thu nhập ổn định, hơn nữa, giống như những hình thức đầu tư vốn vật chất, nó cũng mang lại rũi ro về thu nhập tương lai của cha mẹ khi khi vợ chồng trẻ phân phối thu nhập chi tiêu giáo dục cho con họ nhiều hơn giành cho cha mẹ. Đầu tƣ vốn con ngƣời thông qua chi tiêu giáo dục Các tiêu chuẩn để đo lường vốn con người thường được chia thành 3 phương pháp tiếp cận: (1) tiếp cận theo đầu ra như tỷ lệ nhập học, thành tựu học tập hoặc số năm đi học trung bình; (2) tiếp cận theo chi phí dựa trên tính toán chi phí dùng để chi trả cho thu thập kiến thức; và (3) tiếp cận theo thu nhập dựa trên quan hệ chặt chẽ với lợi ích của mỗi cá nhân đạt được từ đầu tư giáo dục và đào tạo (Kwon, Dae-Bong, 2009). Mức độ kỳ vọng của cha mẹ đối với trẻ em khác nhau giữa các xã hội nhưng đều có điểm chung là họ có tầm nhìn về lợi ích tương lai của trẻ, Becker, G.
(1964) đã xác định vai trò quan trọng của cha mẹ trong phát triển vốn con người và đầu tư vào vốn con người của trẻ dưới sự hạn chế tín dụng thì nhất thiết đòi hỏi hộ gia đình phải bỏ qua một số tiêu dùng để đầu tư giáo dục cho trẻ. Để vốn con người được đầu tư một cách tối ưu thì nhu cầu đặt ra không chỉ quan tâm đến năng lực con người và tài chính của hộ gia đình mà còn chú ý đến việc tận dụng tiềm năng tích lũy vốn, theo đó những kỳ vọng tương lai của hộ gia đình và hoạt động cá nhân là các yếu tố quyết định đến mức độ, hình thức đầu tư vốn con người (Mincer, J. Giáo dục được xem là công cụ tích lũy vốn con người, nên các khoản đầu tư vốn con người ban đầu cho giáo dục là các khoản chi phí trực tiếp khi học và thu nhập bị bỏ qua trong quá trình học (Schultz, T. Ehrenberg and Smith (2011) cho rằng đầu tư vốn con người đòi hỏi có sự phát sinh chi phí trong ngắn hạn và được kỳ vọng sẽ thu lợi ích cao hơn trong tương lai, theo đó chi phí bổ sung vốn con người được chia thành 3 loại: (1) chi phí trực tiếp gồm chi phí nhập TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 học, chi phí sách vỡ và chi phí khác; (2) thu nhập bị bỏ qua khi được giáo dục; và (3) tổn thất về tinh thần trong quá trình học tập, theo đó Mincer, J.