MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Bình đẳng giới là một trong những mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, là tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển của mỗi xã hội và là yếu tố cơ bản để nâng cao khả năng tăng trưởng kinh tế của từng quốc gia. Trong số 8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, nâng cao bình đẳng giới và vị thế, năng lực của phụ nữ là mục tiêu đứng thứ 3 trong Bản Tuyên ngôn Thiên niên kỷ. Trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong nỗ lực giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng về giới.
Theo Báo cáo thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (2005), giá trị chỉ số phát triển giới (GDI) của Việt Nam tăng từ 0,668 năm 1998 lên 0,689 năm 2004 và thuộc nhóm nước có thành tựu tốt trong khu vực về chỉ số phát triển giới [1; tr. Việc đẩy mạnh các hoạt động về giới đã tạo ra sự chuyển biến tích cực về nhận thức cũng như hành động của xã hội trước những vấn đề bất bình đẳng giới. Tuy nhiên cuộc đấu tranh cho bình đẳng giới ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và tình trạng bất bình đẳng giới là một trong những thách thức chính về phát triển đối với Việt Nam. Trước hết, đó là những định kiến giới ở nhiều tầng lớp xã hội coi trọng nam giới hơn phụ nữ.
Các biểu hiện tập trung có thể liệt kê như: thích sinh con trai hơn con gái, coi việc nội trợ, chăm sóc con cái là của phụ nữ, khi chia tài sản thừa kế thường dành cho con trai nhiều hơn, ưu tiên đầu tư vào con trai, coi nam giới là chủ hộ gia đình vì nam giới được xem là người trụ cột, quyết định chính trong gia đình và thành thạo mọi việc xã hội [1; tr. Nhìn chung, nhận thức về bình đẳng giới của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế. Trong nhiều trường hợp, những quan niệm bất bình đẳng giới được khái quát hoá và trở thành các chuẩn mực và giá trị xã 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trong khi điều kiện kinh tế đang thay đổi nhanh chóng thì các chuẩn mực, giá trị văn hoá liên quan đến vai trò giới dường như thay đổi rất chậm chạp [49; tr.
Do đó, cuộc chiến đấu chống lại bất bình đẳng giới ở Việt Nam đòi hỏi nỗ lực nhiều hơn trong việc nâng cao nhận thức người dân về bình đẳng giới. Vị thành niên là giai đoạn quá độ từ trẻ con sang người lớn, đây cũng là giai đoạn diễn ra sự học tập, thích nghi và lựa chọn các giá trị, chuẩn mực một cách mạnh mẽ. Quá trình nhận thức, hình thành nhân cách ở giai đoạn này giữ vai trò quan trọng trong cuộc đời mỗi con người và chịu sự chi phối không nhỏ từ ý thức hệ chủ đạo đang tồn tại trong xã hội. Nhóm vị thành niên ở độ tuổi từ 15 đến 17 phần lớn vẫn đang là học sinh, những hiểu biết xã hội và nhận thức của các em về bình đẳng giới chủ yếu thông qua quan sát, học hỏi từ cha mẹ, thầy cô và mọi người xung quanh.
Vì thế, nhận thức không đầy đủ sẽ dẫn tới việc nhóm vị thành niên này tiếp thu một cách thụ động các chuẩn mực, định kiến giới. Mặt khác, quá trình xã hội hoá vai trò giới được chia thành 3 giai đoạn, mà theo đó, ở giai đoạn thứ ba, giai đoạn ở tuổi vị thành niên, trẻ em bắt đầu có ý thức hơn về giới do quá trình xã hội hoá toàn diện hơn. Ở giai đoạn này, các em có thể tiếp nhận những nhận thức mới về bình đẳng giới để thay thế cho các quan niệm nam quyền cũ [36; tr. Thêm vào đó, ở lứa tuổi này, vị thành niên đã biết để ý đến những người bạn khác giới và bắt đầu có xu hướng học hỏi các khuôn mẫu vai trò được cho là “mẫu mực” để nhận được sự đánh giá cao từ phía bạn khác giới.
Trong khi đó truyền thông về bình đẳng giới chưa xây dựng được thành những chương trình giáo dục cho từng nhóm đối tượng cụ thể và chưa chú trọng đến việc giáo dục bình đẳng giới cho nhóm vị thành niên. Vì thế, các em dễ học tập theo mô hình bất bình đẳng giới diễn ra trong gia đình và ngoài xã hội. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đồng thời có thể thấy rằng nhận thức của vị thành niên về bình đẳng giới chịu ảnh hưởng từ rất nhiều yếu tố. Ngay từ gia đình, sự định hướng của cha mẹ về lối sống, chuẩn mực, học tập, lao động- nghề nghiệp và trong cả sự đầu tư của cha mẹ đối với con cái cũng thường có sự phân biệt tương đối rõ ràng về giới.
Trong nhiều gia đình, công việc do trẻ em đảm nhận thường có sự phân biệt rõ ràng theo vai trò giới. Chính yếu tố này có thể dẫn tới nhận thức của các em về chuẩn mực cho từng giới trong phân công lao động gia đình. Tuy nhiên, có thể thấy rằng các nghiên cứu xã hội học về thanh niên, vị thành niên hiện nay chủ yếu tập trung vào các vấn đề có liên quan đến sức khoẻ sinh sản, tình yêu, hôn nhân hay các vấn đề về học tập, lao động- việc làm; nhận thức đối với bình đẳng giới còn ít được đề cập trong các công trình nghiên cứu. Chính vì thế, tìm hiểu nhận thức của nhóm vị thành niên độ tuổi từ 15- 17 về bình đẳng giới là hết sức cần thiết.
Qua đó chúng ta biết được thực trạng nhận thức của vị thành niên Việt Nam về bình đẳng giới và có định hướng thích hợp trong việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, góp phần thay đổi nhận thức của người dân ngay từ khi còn trẻ, tạo nền tảng vững chắc trong nhận thức về bình đẳng giới sau này. Đây cũng là việc quan trọng góp phần vào nỗ lực cải thiện tình hình bất bình đẳng giới ở Việt Nam về mặt nhận thức. Trong khuôn khổ của luận văn cao học, tác giả chỉ giới hạn ở tìm hiểu nhận thức của nhóm vị thành niên độ tuổi 15- 17 về bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu - Xác định nhận thức của nhóm vị thành niên độ tuổi từ 15- 17 về bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình hiện nay. - Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức của vị thành niên về bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình. Nhiệm vụ nghiên cứu - Làm rõ một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: Nhận thức, vị thành niên, giới, bình đẳng giới,… Trên cơ sở đó, bước đầu xây dựng cơ sở lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu.
- Tổng quan một số nghiên cứu có liên quan đến việc phân tích nhận thức của vị thành niên về bình đẳng giới. - Mô tả thực trạng nhận thức của nhóm vị thành niên từ 15- 17 tuổi ở Việt Nam hiện nay về vấn đề bình đẳng giới. Cụ thể là: Nhận thức về bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình (vai trò của người vợ và người chồng, sự phân công lao động trong gia đình, mối quan hệ quyền lực giữa vợ và chồng qua các quyết định…). - Phân tích các nhân tố tác động đến nhận thức của vị thành niên (từ 15- 17 tuổi) về bình đẳng giới.
Cụ thể: Các nhân tố từ phía bản thân vị thành niên (giới tính); các nhân tố gia đình (học vấn cha mẹ, nơi ở, mức sống…). Câu hỏi nghiên cứu - Vị thành niên hiện nay quan niệm như thế nào về sự phân công lao động và quyền quyết định trong các công việc gia đình giữa nam giới và phụ nữ, người vợ và người chồng? 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Có sự khác biệt trong nhận thức về bình đẳng giới giữa những vị thành niên ở các hoàn cảnh khác nhau về mức sống, nơi ở, trình độ học vấn của cha mẹ, giới tính của vị thành niên không? - Mô hình phân công lao động của cha mẹ và mô hình quyền quyết định các công việc trong gia đình của cha mẹ có ảnh hưởng đến quan điểm của vị thành niên về sự phân công lao động và quyền quyết định giữa nam giới và phụ nữ trong gia đình không? 4. Giả thuyết nghiên cứu - Nhận thức của một bộ phận vị thành niên Việt Nam độ tuổi từ 15- 17 về bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình vẫn tiếp tục duy trì quan niệm về sự phân công lao động và quyền quyết định các công việc giao đình theo mô hình truyền thống. - Nữ vị thành niên có nhận thức về bình đẳng giới tốt hơn nam vị thành niên; Nhóm vị thành niên ở khu vực thành thị, nhóm có mức sống cao hơn, nhóm vị thành niên có cha mẹ trình độ học vấn cao hơn có nhận thức tốt hơn so với các nhóm vị thành niên còn lại.
- Vị thành niên trong những gia đình có sự bình đẳng giữa cha và mẹ trong phân công lao động và quyền quyết định các công việc gia đình có nhận thức tốt hơn về sự phân công lao động và quyền quyết định giữa vợ và chồng trong các công việc này so với nhóm còn lại. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khung lý thuyết Môi trường KT- XH Đặc điểm của vị thành niên Nhận thức của vị thành niên Đặc điểm gia đình (15- 17 tuổi) về bình đẳng giới Đặc điểm cộng đồng Chính sách, văn bản pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới Trong đó: - Đặc điểm vị thành niên: Giới tính - Đặc điểm gia đình: học vấn của cha mẹ, mức sống, mô hình phân công lao động của cha mẹ, mô hình quyền quyết định của cha mẹ. - Đặc điểm cộng đồng: Khu vực (nông thôn- đô thị) 6.
Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 6. Phương pháp luận - Phương pháp luận chung: Tiếp cận từ quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về các vấn đề giới (thông qua một số tác phẩm có liên quan như “Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu và Nhà nước”, “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh”, “Bản dự luật về ly hôn”). Đồng thời vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và những chính sách, văn bản pháp luật của nhà nước về bình đẳng giới. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Phương pháp luận chuyên biệt: Sử dụng một số lý thuyết xã hội học như: Lý thuyết về Giới và Phát triển, lý thuyết về vai trò xã hội.