CHƯƠNG 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH NHÂN SINH QUAN NGUYỄN THƯỢNG HIỀN Quan niệm về nhân sinh quan xƣa nay có nhiều ý kiến khác nhau nhƣng theo chúng tôi, nhân sinh quan là hệ thống những quan niệm chung nhất về cuộc đời, ý nghĩa mục đích cuộc sống của con ngƣời. Nhân sinh quan đề ra và giải đáp những vấn đề nhƣ: con ngƣời sinh ra để làm gì? lẽ sống của con ngƣời là gì (sống để làm gì? sống vì cái gì? tại sao mà sống?) sống nhƣ thế nào cho xứng đáng là con ngƣời?…Tóm lại, nhân sinh quan nói lên quan niệm của ngƣời ta về bản chất, mục đích của cuộc sống, về thái độ và hành vi của ngƣời ta trong cuộc sống. Nhân sinh quan thuộc về ý thức, tƣ tƣởng, cũng nhƣ bất cứ ý thức tƣ tƣởng nào, mỗi nhân sinh quan đều có điều kiện, cơ sở nhất định. Do đó, muốn giải thích nhân sinh quan Nguyễn Thƣợng Hiền, trƣớc hết cần phải tìm hiểu các điều kiện, tiền đề để hình thành nhân sinh quan của ông.
Đó là điều kiện kinh tế - xã hội, tiền đề chính trị tƣ tƣởng, hoàn cảnh gia đình và bản thân con ngƣời Nguyễn Thƣợng Hiền. NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI THỜI NGUYỄN THƢỢNG HIỀN a. Tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ảnh hưởng đến Việt Nam Khoảnh khắc giao thời giữa hai thế kỷ, trên thế giới nói chung và vùng Đông Á nói riêng đã diễn ra nhiều sự kiện trọng đại, ảnh hƣởng trực tiếp đến Việt Nam, đó là: cuộc vận động cải cách ở Trung Quốc, cuộc duy tân của Nhật Bản, cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Giai đoạn này, các nƣớc tƣ bản lớn đã phát triển lên hình thức mới, đó là chủ nghĩa đế quốc và tiến hành chiến tranh xâm lƣợc thôn tính thuộc địa.
Từ cuối thế kỷ XIX, các nƣớc tƣ bản phƣơng Tây đổ xô sang Viễn Đông tìm kiếm thị trƣờng. Đối tƣợng chính của chúng là Trung Quốc, một nƣớc đông 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dân, đất rộng, nhiều tài nguyên nhất châu Á. Bƣớc sang đầu thế kỷ XX, Trung Quốc từ một nƣớc độc lập, trở thành một nƣớc nửa thuộc địa. Từ khi đế quốc chủ nghĩa xâm nhập Trung Quốc, nền kinh tế và xã hội Trung Quốc đã có những chuyển biến căn bản.
Sau năm 1894, với điều ƣớc Mã Quan, Khang Hữu Vi, Lƣơng Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Nghiêm Phục thực hiện biến pháp tạo nên chính biến Mậu Tuất (1898). Đồng thời, họ xuất bản nhiều sách báo tuyên truyền cho tƣ tƣởng duy tân. Đó là "Tân văn", "Tân thƣ"- sách dịch các tác phẩm của các nhà tƣ tƣởng châu Âu nhƣ Voltaire, Rousseau, Spencer, Darwin.; sách giới thiệu phong trào duy tân ở Nhật Bản, sách truyền bá tri thức khoa học. Tân thƣ cũng bao gồm cả các tác phẩm của các nhà cải cách ở Trung Quốc từ Nguỵ Nguyên đến Khang Hữu Vi, Lƣơng Khải Siêu, Đàm Tự Đồng.
Phong trào duy tân tuy thất bại nhƣng đã góp phần thức tỉnh tinh thần yêu nƣớc, đề cao tƣ tƣởng độc lập, mở đƣờng cho tƣ tƣởng dân chủ tƣ sản phát triển ở xã hội Trung Quốc. Trung Quốc vốn là nƣớc có quan hệ chặt chẽ, gần gũi với Việt Nam nên các chuyển biến mạnh mẽ trong triều đình nhà Thanh, các phong trào duy tân với các tƣ tƣởng cải cách đổi mới đều ảnh hƣởng gần nhƣ trực tiếp, dội vào Việt Nam. Thêm nữa, hoàn cảnh hai nƣớc có những nét tƣơng đồng cũng là điều kiện cơ bản thuận lợi cho sự du nhập, tiếp thu các tƣ tƣởng mới của Trung Quốc vào Việt Nam. Qua Tân văn, Tân thƣ trào lƣu tƣ tƣởng mới (chịu ảnh hƣởng của tƣ tƣởng dân chủ tƣ sản và văn minh phƣơng Tây) đƣợc giới thiệu với các sỹ phu Việt Nam, gây nên những phân hoá, biến đổi về tƣ tƣởng.
Sau này trên báo “Thần Chung” (Sài gòn) ra ngày 25/1/1929 có đoạn “tập Ẩm băng (của Lƣơng Khải Siêu tiên sinh) với sỹ phu Việt Nam lúc nọ chẳng khác chi thang thuốc hay với ngƣời mang bệnh “trầm kha”, còn “Trung Quốc hồn” là một tập sách vài mƣơi trang mà thay đổi lòng ngƣời nhƣ chớp, một tập sách nói chuyện nƣớc Tàu mà làm cho 20 triệu dân Nam phấn khởi” [ 15, tr. Cũng trên báo “Thần chung” ngày 8/1/1929 có đoạn viết : “Những Thanh nghị báo, Tân dân tùng báo, Ẩm băng thất, Tự do thư, Trung Quốc hồn, đã 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đánh thức đám sỹ phu ta, gần nhƣ trực tiếp, vì trong đó nói chuyện nƣớc Tàu mà có nhiều chỗ trùng bệnh với ngƣời mình lắm” [15, tr. Năm 1911, Trung Quốc làm cách mạng Tân Hợi thành công. Ngay sau đó Trung Quốc trở thành đất dụng võ mới của Phan Bội Châu, Nguyễn Thƣợng Hiền và các chiến sỹ Đông du bị Nhật Bản trục xuất.
Sự thắng lợi của công cuộc Minh trị duy tân tại Nhật Bản cũng ảnh hƣởng rất lớn tới Việt Nam. Nhật Bản trƣớc năm 1868 là nƣớc phong kiến Đông phƣơng bế quan toả cảng nhƣ Việt Nam trƣớc năm 1858. Nhờ có Duy tân, nhờ có Âu hoá mà phát triển lên tƣ bản chủ nghĩa, lại vẫn giữ đƣợc độc lập, sớm cƣờng thịnh. Cả thế giới, đặc biệt là Đông Á và Đông Nam Á thừa nhận: nhờ có duy tân, nƣớc Nhật mới đạt đƣợc thành tựu rực rỡ nhƣ vậy.
Nhật Bản tiến lên thành một cƣờng quốc, đánh thắng nƣớc Nga vào năm 1905. Sự kiện đó đã gây tiếng vang lớn trên thế giới, dội vào trí óc của những ngƣời Việt Nam yêu nƣớc cũng nhƣ của nhiều ngƣời yêu nƣớc thuộc các dân tộc khác ở Á Đông bị thực dân đô hộ, và đã thực sự kích thích phƣơng Đông thức tỉnh. “Nhật Bản từ nay đƣợc coi nhƣ cứu tinh của các dân tộc da vàng. Một xu hƣớng thân Nhật phát triển ở Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ.xu hƣớng này ít nhiều có tác động đến tinh thần chống đế quốc ở các nƣớc thuộc địa và bán thuộc địa ở châu Á” [ 36, tr.
Nhật Bản đã thực sự là tấm gƣơng có sức hút mạnh đối với các sĩ phu yêu nƣớc Việt Nam lúc đó. Do vậy, phong trào sang Nhật cầu học, phong trào Đông du rất sôi nổi kéo dài từ 1904 đến 1908 đã có một địa vị trọng yếu trong lịch sử cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tiếp đó là cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) bùng nổ, tạo ra một thời cơ mới để cho các tổ chức yêu nƣớc Việt Nam ở trong nƣớc cũng nhƣ ở nƣớc ngoài hô hào nhân dân đứng dậy giành độc lập bằng vũ trang. Tất cả những sự kiện trên đã tác động trực tiếp, dữ dội đến Việt Nam và qua đó tới quá trình chuyển biến tƣ tƣởng của Nguyễn Thƣợng Hiền.
Đó cũng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là một trong những nguồn gốc, căn cứ xã hội của quá trình hình hành và phát triển nhân sinh quan Nguyễn Thƣợng Hiền. Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam dần dần đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp trƣớc sự bất lực của triều đình phong kiến nhà Nguyễn. Với âm mƣu lâu dài và liên tục, thực dân Pháp lăm le xâm lƣợc nƣớc ta từ lâu, bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ XVII, và ngày càng đƣợc xúc tiến một cách mạnh mẽ, đặc biệt từ giữa thế kỷ XIX. Năm 1858, thực dân Pháp trắng trợn nổ súng xâm lƣợc nƣớc ta, chúng dự tính sẽ nhanh chóng đè bẹp Việt Nam, nhƣng chúng đã vấp phải sức phản kháng mãnh liệt của nhân dân ta.
Đến năm 1896, với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng, phong trào chống Pháp dƣới lá cờ Cần Vƣơng rầm rộ hàng chục năm ở hầu khắp các tỉnh đã chấm dứt. Với các hiệp ƣớc 1862, 1874, 1883-1884, triều đình nhà Nguyễn đã trở thành bù nhìn, Việt Nam bị thực dân Pháp thôn tính hoàn toàn và trở thành một nƣớc thuộc địa. Vua chúa, quan lại Nam triều chỉ là bọn tay sai của thực dân Pháp, chủ quyền thực sự nằm trong tay chúng. Lúc này chế độ chính trị ở Việt Nam là chế độ thực dân nửa phong kiến.
Với kinh nghiệm lọc lõi, thực dân Pháp đã thực thi những chính sách thâm độc trên đất nƣớc Việt Nam, nhằm biến Việt Nam thành thị trƣờng tiêu thụ hàng hoá, cung cấp nguồn lao động rẻ mạt, vơ vét tài nguyên thu lợi nhuận tối đa cho tƣ bản Pháp. Mặt khác, để dễ bề cai trị chúng vẫn duy trì tình trạng lạc hậu về mọi mặt ở Việt Nam. Đặc biệt, chúng tận dụng triệt để triều đình phong kiến bất lực, thông qua bộ máy của nó để cấu kết với giai cấp phong kiến phản động điều khiển bộ máy thống trị tƣớc đoạt mọi quyền lợi của nhân dân ta. Thực dân Pháp còn tăng cƣờng bộ máy bạo lực sẵn sàng rà soát đàn áp dã man tất cả những biểu hiện chống Pháp của nhân dân Việt Nam.
Chúng lại ra sức thi hành chính sách “chia để trị”, đặt ra chế độ chính trị, ban hành luật pháp khác nhau giữa ba kỳ Bắc, Trung, Nam ở nƣớc ta. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhằm thực hiện mục đích nô dịch về chính trị và bóc lột về kinh tế, đồng thời với việc duy trì các quan hệ kinh tế cũ, chúng đã tìm mọi cách để đem một cơ cấu kinh tế đế quốc bao trùm lên cơ cấu kinh tế cũ. Chính sách kinh tế thực dân của chúng có thể đƣợc tóm tắt nhƣ sau: bán hàng hoá, khai thác nguyên liệu và cho vay nặng lãi. Công nghiệp chỉ đƣợc phát triển trong giới hạn không hại đến nền công nghiệp chính quốc.
Thực dân Pháp cũng mở mang thêm một số hoạt động mới trên cơ sở nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tự cấp, tự túc, tiểu thủ công nghiệp, thƣơng nghiệp nhỏ bé, phân tán. của Việt Nam. Do đó, giao thông đƣợc mở mang, một số ngành nghề mới xuất hiện, tình trạng “bế quan toả cảng” trƣớc đây bị phá vỡ, Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với thế giới, trƣớc hết là Đông Á và châu Âu. Thế nhƣng thực dân Pháp lại chăng một hàng rào thuế quan làm cho Việt Nam phụ thuộc vào Pháp, thành cái đuôi của tƣ bản Pháp.