mở đầu cho một loạt các cuộc nổi dậy lớn khác của quần chúng nhân dân. Cũng từ 1739 trở đi, phong trào đấu tranh của nông dân Đàng Ngoài nổi lên ngày càng rầm rộ. Các đoàn nông dân nghèo khổ lưu vong làm lực lượng hậu bị. Khởi đầu là khởi nghĩa của Nguyễn Dương Hưng.
Sau năm 1741, phong trào nông dân tập hợp trong 4 cuộc khởi nghĩa lớn kéo dài: Khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu, Khởi nghĩa Hoàng Công Chất, Khởi nghĩa Lê Duy Mật. Phong trào nông dân Đàng Ngoài trong nửa sau thế kỷ XVIII đấu tranh quyết liệt nhưng tất cả đều bị thất bại, đều bị triều đình Lê – Trịnh nhấn chìm trong biển máu. Ở Đàng Trong, cho đến cuối những năm 60, xã hội vẫn chưa có những cuộc đấu tranh bạo động, các đô thị Hội An, Sài Gòn vẫn duy trì hoạt động. Khi phong trào nông dân ở Đàng Ngoài thất bại thì phong trào nông dân Đàng 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong bắt đầu nổi lên mạnh mẽ.
Từ năm 1770 về sau, anh em Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ và nhiều người khác tập hợp nông dân, dân nghèo, những người buôn bán nhỏ, người Kinh, người Bana,… nổi lên lật đổ chính quyền Chúa Nguyễn. Phong trào Tây Sơn sau khi lật đổ chính quyền họ Nguyễn lại tiến ra lật đổ chính quyền Lê – Trịnh, bước đầu thống nhất đất nước. Ranh giới sông Ranh chia đất nước làm 2 miền vĩnh viễn bị xóa bỏ và sự phân biệt Đàng Trong - Đàng Ngoài không còn nữa. Khởi nghĩa Tây Sơn còn lập nên chiến công vĩ đại tiêu diệt quân xâm lược Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút (1785) và quân Mãn Thanh ở Ngọc Hồi, Đống Đa (1789).
Khởi đầu từ ấp Tây Sơn, phủ Quy Nhơn, nghĩa quân Tây sơn dựa vào sức mạnh vùng lên của nông dân Đàng Trong rồi nhanh chóng mở rộng ra toàn quốc, lật đổ nhà nước phong kiến già cỗi và quét sạch quân xâm lược. Phong trào Tây Sơn là sự kết hợp giữa đấu tranh giai cấp và đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc trong điều kiện các tập đoàn phong kiến ra mặt phản nhân dân, phản dân tộc. Chính sự kết hợp giữa giai cấp và dân tộc đã tạo nên sức mạnh và thắng lợi nhanh chóng và khá triệt để của phong trào Tây Sơn. Sự phát triển của phong trào Tây Sơn đã tác động sâu sắc đến tầng lớp sĩ phu Đàng Trong và Đàng Ngoài.
Không ít sĩ phu vẫn trung thành với nhà Lê, nhưng cũng không ít sĩ phu thức thời từ bỏ chính quyền Lê – Trịnh mà hợp tác đắc lực với Tây Sơn. Song bước đi tiếp theo của phong trào Tây Sơn cũng do thời đại quy định. Những thủ lĩnh của phong trào sau chiến thắng lại chuyển thành vương triều phong kiến [42; tr. Một nhà nước phong kiến được tái lập.
Vương triều Tây Sơn là một hỗn hợp không chặt chẽ giữa các võ tướng xuất thân là nông dân Đàng Trong chuyển hóa thành quan lại, nắm giữ các chức vụ chủ chốt ở triều đình cùng với các văn thần mới được thu dụng. Năm 1792 vua Quang Trung mất, các nho thần Bắc Hà như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyễn Thế Lịch, Ninh Tốn. như “bóng nhạn cô đơn” (lời Phan Huy Ích). Sau đó họ không được tin dùng, có người trở ra Bắc hay về quê.
Chính quyền Tây sơn suy yếu và cuối cùng bị thế lực Gia Long khởi binh, từ Gia Định tiến ra Bắc Hà đánh đổ vào năm 1802. Bối cảnh kinh tế - xã hội Trong lúc các tập đoàn phong kiến đang tranh giành quyền vị, đất nước bị phân chia thì nhân dân ta, mặc dù đã tổn hại nhiều sức lực và của cải trong chiến tranh vẫn không ngừng lao động cần cù, tạo dựng cuộc sống. Kinh tế đất nước nhìn chung trong các thế kỷ XVI – XVIII vẫn phát triển trong mức độ nhất định. Trong các làng xã, các hộ gia đình nông dân tư hữu ngày càng phát triển.
Ở Đàng Ngoài, nhiều vùng đất khai hoang được mở rộng, xóm làng mọc lên nhiều. Các vùng ven biển Hải Dương, Sơn Nam, Thanh Hóa, sản xuất nông nghiệp có nhiều lúc, nhiều nơi được phát triển. Những vùng không có chiến tranh và những vùng xa thời chiến tranh thì vẫn ổn định. Ở Đàng Trong, nhờ khẩn hoang, thường xuyên mở rộng các vùng Thuận Hóa, Quảng Nam, đã trở thành khu vực kinh tế phát triển.
Đất Ô Châu thời Dương Văn An, cuối thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVII thì làng xóm chen nhau, ruộng đồng trải đều đến ven biển [42; tr. Một nét mới trong lĩnh vực kinh tế Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII là sự phát triển khá mạnh của kinh tế hàng hóa. Sự gia tăng dân số, những tiến bộ về hệ thống thủy lợi và những kỹ thuật canh tác đã tạo nên một lực lượng lao động dư thừa, tạo điều kiện cho thủ công nghệp tách khỏi nông nghiệp. Những nhu cầu tiêu dùng trong sinh hoạt hàng ngày của quần chúng bình dân, cũng như trong đời sống xa xỉ nhiều mặt của tầng lớp thị dân giàu có và đẳng cấp vua quan càng kích thích những ngành nghề thủ công phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng.
Bên cạnh những cơ sở sản xuất vốn có truyền thống lâu đời, xuất hiện thêm nhiều làng thủ công chuyên nghề phi nông nghiệp. Đồng 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thời với sự phát triển của thủ công nghiệp, thì mạng lưới chợ làng – chợ phiên xuất hiện nhiều. Bên cạnh chợ phiên, còn có phố nhỏ ở các trục giao thông thủy bộ. Chợ quê tại các làng và thị tứ ở Đàng Ngoài và Đàng Trong các thế kỷ này đều là kiểu kinh tế hàng hóa nhỏ.
Với nền kinh tế hàng hóa nhỏ, phân tán tiếp tục duy trì và củng cố nền kinh tế tiểu nông, đã làm cho kết cấu kinh tế của phần lớn làng Việt không còn đơn thuần là nông nghiệp mà là nông – công – thương nghiệp, lấy nông nghiệp làm cơ sở, công thương là bổ sung quan trọng [42; tr. Ở Việt Nam, bên cạnh nền kinh tế hàng hóa nhỏ phổ biến thì thành thị vào thế kỷ XVII – XVIII lại xuất hiện nhiều và mở rộng khá toàn diện về cả số lượng, quy hoạch, cư dân, hoạt động kinh tế và đời sống văn hóa. Những nét nổi bật của sự hưng thịnh đô thị này là sự phát triển toàn diện của những đô thành chính trị như Thăng Long, Phú Xuân, sự ra đời của một số đô thị kinh tế mới như Phố Hiến, Hội An,… và sự hình thành một hệ thống đô thị nhỏ trong phạm vi toàn quốc (thị trấn, thị tứ,…). Thành thị, chợ làng, thị tứ tạo ra một bộ phận thị dân và nửa thị dân, bổ sung vào xã hội nét mới không thể không tác động đến đời sống và tinh thần người Việt lúc đó.
Bối cảnh lịch sử ở đây là những chuyển biến kinh tế - xã hội trong một khung cảnh chính trị có nhiều thay đổi. Cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn lúc này đã nới lỏng và phần nào làm yếu đi sự kiểm soát thống nhất về chính trị và hệ tư tưởng. Mỗi miền đều có điều kiện để phát triển theo những hoàn cảnh riêng. Các thành thị là trung tâm chính trị - chính quyền nhưng không hoàn toàn gò bó theo giáo lý Nho giáo, mà mở thoáng hơn, cá nhân tự tại hơn.
Tuy nhiên, trong các đô thị, kết cấu xã hội đa nguyên đủ cả bốn thành phần cư dân: sĩ, nông, công, thương hợp thành thị dân. Đó không phải là một tầng lớp thị dân đích thực. Khối bình dân là chủ thể của đô thị nhưng chưa bao giờ nắm giữ được vai trò là chủ nhân đô thị. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện tượng đô thị và đô thị hóa liên quan mật thiết đến vấn đề nảy sinh mầm mống chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam.
Về mặt kinh tế, sự ra đời của chủ nghĩa tư bản bắt nguồn từ hai điểm xuất phát: một là nền thương nghiệp lớn đường dài (trên quy mô toàn cầu) và nền sản xuất của các công trường thủ công. Cả hai yếu tố này đều không có ở Việt Nam, cũng không có những điều kiện khác như sự tích tụ vốn tư bản và hàng hóa. Nhìn chung và về cơ bản, Việt Nam lúc này không có những tiền đề xã hội chủ yếu cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản. Tầng lớp thị dân pha tạp và chạy theo xu hướng quan liêu không thể trở thành một giai cấp mới (tư sản) đủ mạnh về kinh tế và chính trị.
Hơn nữa, tầng lớp nông dân và thợ thủ công ven đô chưa bao giờ bị tước đoạt hoàn toàn khỏi những tư liệu sản xuất của mình để trở thành quần chúng vô sản đô thị. Về mặt chính trị, các đô thị Việt Nam luôn luôn bị kìm hãm trong một sự khống chế hai đầu: sự kiểm soát của một nhà nước quan liêu cực quyền và sự níu kéo, bao vây của cộng đồng các làng xã. Đô thị Việt Nam chưa bao giờ giành được quyền tự chủ - tự quản. Người dân đô thị cũng chưa bao giờ rũ bỏ được thân phận thần dân để trở thành những công dân.
Cuối cùng, ý thức hệ và văn hóa cũng là một trở lực quan trọng cho sự nảy sinh chủ nghĩa tư bản. Quan điểm chính thống “trọng nông ức thương”, “trọng bản ức mạt” đã góp phần kìm hãm sự phát triển của những hoạt động kinh doanh tự do. Thế kỷ XVI – XVIII là một giai đoạn đặc biệt trong đời sống kinh tế Việt. Đây là những thế kỷ đầy biến động, vừa là của sự suy thoái, vừa là của sự trỗi dậy.
Ở những mức độ khác nhau, những yếu tố mới trong nền kinh tế đó đã có những tác động tích cực, kích thích và thúc đẩy nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, trong những điều kiện cụ thể của lịch sử và xã hội Việt Nam thời đó, đã không xuất hiện những nhân tố đủ mạnh để làm chuyển đổi mô hình kinh tế - xã hội, nền kinh tế hàng hóa thị trường không thể trở thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, một giai cấp tư sản không xuất hiện trong đời sống 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh tế và chính trị, hệ thống đô thị không thắng nổi sự chi phối, níu kéo của làng xã nông thôn.