PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong nhiều thập kỷ trở lại đây, du lịch đã và đang đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế cùa nhiều quốc gia trên thế giới. Theo thống kê của Tô chức Du lịch thế giới (UNWTO, 2020), lượng khách du lịch quốc tế năm 2019 ước đạt gần 1,460 tỷ lượt, tăng 3,8% so với năm 2018, doanh thu đạt 1481 tỷ USD. Đây là năm tăng trưởng thứ mười liên tiếp kê tò năm 2009.
Theo thống kê (Tông cục du lịch, 2020), tông thu ư'r khách du lịch, năm 2019 du lịch Việt Nam đạt 755 nghìn tỷ đồng (tương đương 32,8 tỷ USD), trong khi năm 1990 đạt 1. Trong đó từ khách du lịch quốc tế đạt 421.000 tỷ đồng (18,3 tỷ USD), từ khách du lịch nội địa đạt 334. Năm 2019, Việt Nam đón trên 18 triệu lượt khách quốc tế, vượt qua Indonesia (16,1 triệu lượt), vươn lên vị trí thứ 4 khu vực Đông Nam Á. Tỷ lệ đóng góp trực tiếp của du lịch vào GDP cũng ngày càng tăng: năm 2015 đạt 6,3%; năm 2016: 6,9%; năm 2017: 7,9%; năm 2018: 8,3% và năm 2019: 9,2%.
số liệu thống kê này cho thấy sự đóng góp quan trọng cùa ngành công nghiệp du lịch vào sự phát triên kinh tế của đất nước. Chính vì tầm quan trọng cùa ngành du lịch đối với sự phát triên kinh tế cùa quốc gia, vùng, và địa phương, nhiều quốc gia đã thúc đây phát triển mạnh mẽ du lịch đê tăng nguồn thu hr du lịch. Tuy nhiên, sự phát triên một cách nhanh chóng và 0 ạt của du lịch đã mang đến nhiều tác động không chi tích cực mà cả tiêu cực đến nhiều quốc gia tò khía cạnh kinh tế - văn hoá - xã hội và môi trường. Chính vì thế, sự phát triên du lịch trờ thành con dao hai lưỡi khiến cho tài nguyên du lịch bị cạn kiệt và các diêm đến bị trở nên ảnh hường xấu cho hiện tại và ưrơng lai.
Những tác động tiêu cực của du lịch lên mọi mặt của xã hội đã khiến cho Tô chức du lịch thế giới và nhiều tô chức khác tìm hướng giải quyết. Từ thập niên 80, nhiều cuộc thảo luận về du lịch bền vừng nhấn mạnh sự cần thiết phải có những hành động cụ thê hơn (Bramwell và cộng sự, 2008). Từ đó, tầm nhìn về một hình thức “du lịch có trách nhiệm” hơn đã 7 được thảo luận và trở thành một yếu tố quan trọng trong khái niệm du lịch bền vững vốn đang tò từ phô biến (Krippendorf, 1987). Hội nghị thượng đinh Trái đất tại Rio de Janeiro năm 1992 với sự tham gia của nhiều đại diện cùa nhiều quốc gia, nhiều tô chức lớn về kinh tế, xã hội, môi trường trên thế giới, đã thống nhất cùng nhau nêu bật tầm quan trọng cùa mục tiêu bền vững thông qua Tuyên bố Rio, trong đó nêu rõ các nguyên tắc chính trong thế kỷ 21 (United Nations, 1992) sau này trở thành mục tiêu hướng tới cùa du lịch có trách nhiệm.
Thuật ngữ “Du lịch có trách nhiệm” được sử dụng chính thirc thông qua Sách trắng về “Phát triên và xúc tiến du lịch ở Nam Phi” vào năm 1996. Sau đó, hội nghị quốc tế Du lịch có trách nhiệm đầu tiên và Tuyên bo Cape Town vào năm 2002 đã xác định du lịch có trách nhiệm tại diêm đen là một cách tiếp cận ba cấp độ: Một là đê nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng địa phương, hai là tạo cơ hội kinh doanh tốt hơn và ba là cải thiện trải nghiệm cho khách du lịch. Một diêm quan trọng nữa mà tuyên bố này khăng định chính là sự hợp tác grữa các bên liên quan là chìa khóa thành công của cách tiếp cận này. Có bốn bên liên quan chính trong ngành du lịch, đó là chính quyền, doanh nghiệp hì hành, khách du lịch và cộng đồng.
Việc hiêu biết và phối hợp lần nhau giữa các bên liên quan có thê bô sung các kiến thức, các kinh nghiệm đê giảm thiêu sự xung đột trong kế hoạch lâu dài. Chính vì thế, xác định rõ các bên liên quan và sự tham gia cùa các bên liên quan chính là chìa khóa quan trọng đê đạt được việc phát triên du lịch bền vững (Tuyên Q. Các cộng đồng tham gia vào ngành du lịch cũng được coi là các bên liên quan đến du lịch. Khách du lịch cũng là các bên liên quan chính vì họ là lý do tồn tại cùa ngành và đóng một vai trò quan trọng trong việc ảnh hường đến cách các bên liên quan khác điều hành hoạt động kinh doanh du lịch cùa họ, đặc biệt là các công ty lữ hành.
Trong các bên liên quan, công ty lữ hành là cầu nối giữa nhà cung cấp du lịch và khách du lịch (ESRT, 2013). Nhirng trước đây, các doanh nghiệp thậm chí coi các nhà bảo vệ môi trường và các quy định về môi trường là kẻ thù. Rồi sau đó các doanh nghiêm cũng tuân theo họ, nhưng một cách miền cưỡng (Caimcross, 1995). Giai đoạn sau này, thái độ cùa doanh nghiệp đối với các vấn đề môi trường đã thay đôi đáng kê 8 khi khái niệm xanh bắt đầu được đưa vào hoạt động kinh doanh điều hành tour du lịch (Cairncross, 1995); những điều này được thúc đây bời sự vận động của ba cơ quan chuyên môn, đó là các nhóm gây áp lực như quan tâm đến du lịch, lá cờ xanh và chiến dịch vì du lịch có trách nhiệm với môi trường, và các phương tiện truyền thông (Swarbrooke, 1999).
Trên website của UNWTO có tuyên bổ chính thức cùa tô chức này liên quan đến tầm quan trọng cùa Du lịch có trách nhiệm và các yểu tố của nó: “UNWTO chịu trách nhiệm thúc đây du lịch có trách nhiệm, bên vững và có thê tiêp cận phô biên, hướng tới việc đạt được Chương trình nghị sự toàn cầu 2030 về Phát triền bền vững và các Mục tiêu Phát triền bền vững. UNWTO cung cấp sự lãnh đạo và hồ trợ cho ngành đu lịch trong việc nâng cao kiến thức và chính sách du lịch trên toàn thế giới, ùng hộ du lịch cỏ trách nhiệm và thúc dãy du lịch như một động lực thúc đây tăng trường kinh tế, phát tri én toàn diện và bền vững môi trường Tầm quan trọng cùa Du lịch cỏ trách nhiệm đã được khăng định về mặt lý thuyết. Tuy nhiên thực trạng du lịch có trách nhiệm là một chủ đề cần xem xét. Kê từ sau những hội nghị quốc tế quan trọng về du lịch có trách nhiệm với những tuyên bố chung rất rõ ràng, nhiều tô chức, hiệp hội hay các nhãn được thành lập và đã hoạt động mạnh mẽ nhằm thay đôi nhận tlúrc cũng như điều chỉnh hành vi, nhu cầu cùa nhiều bên liên quan du lịch, góp phần giảm thiêu tác hại và tăng tác động tốt lên môi trường kinh tế xã hội.
Tuy nhiên nhiều nơi trên thế giới, du lịch có trách nhiệm vẫn chưa được thực hiện hiệu quả hoặc chưa được quan tâm. ơ Việt Nam du lịch có trách nhiệm vẫn chưa có được nhiều sự quan tâm thật sự của doanh nghiệp lữ hành. Từ 2011 đến 2016, chương trình “Phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội” (ESRT) được tài trợ của liên minh châu Ầu đã phát động phong trào. Năm 2013, 2014 có một số hoạt động có liên quan của Vietravel nhưng chi kéo dài tập trung trong hai năm 2013 và 2014.
Sài Gòn Tourist có những hoạt động liên quan nhưng tập trung Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp hơn là Du lịch có trách nhiệm. Tại Hà Nội có câu lạc bộ RTC (Responsible Tourism Club) và Huế có câu lạc bộ RTG cùa các nhóm nhỏ các doanh nghiệp chuyên 9 thị trường khách Âu, Mỹ, úc với các hoạt động chù yếu hướng về du lịch cộng đồng và tập trung vào truyền thông hướng đến các hãng du lịch và khách du lịch Âu, Mỹ, Úc. HCM từ 2022 mới chi có cộng đồng Du lịch có trách nhiệm WAF0RT hoạt động quy mô nhỏ chưa mở rộng phát triên. Ngoài ra, các hoạt động ở các doanh nghiệp khác thường mang tính ựr phát tùy vào chính sách trách nhiệm xã hội, hoặc chính sách xã hội cùa riêng doanh nghiệp.
Liệu sự thiếu vang về thực hành Du lịch có trách nhiệm này ờ các doanh nghiệp đến tír đâu? Có phải các doanh nghiệp chưa biết đến các hoạt động thực hành Du lịch có trách nhiệm hay các ban ngành cùa nhà nước chưa quan tâm và chưa chú trọng triên khai ? ơ khía cạnh nghiên círu về Du lịch có trách nhiệm, các hoạt động chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp khách sạn, hoặc nghiên círu về các vùng hoặc khu du lịch về nhiều thành phần khác nhau nhưng lại thiếu sót ở nghiên círu các công ty hì hành. Cụ thê, tác giả Vân Anh (2019), Trần Thị Minh Hòa và Nguyền Thị Hồng Ngọc (2014) có nghiên círu các khía cạnh của du lịch có trách nhiệm trong kinh doanh tại khách sạn. Nguyền Trọng Nhân và các cộng sự (2020) đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triên du lịch có trách nhiệm nói chung ờ huyện Kiên Hải, tinh Kiên Giang và chi có một phần rất hạn chế về doanh nghiệp hì hành. Đây là đề tài gần gũi nhất với hoạt động của doanh nghiệp hì hành.
Nghiên círu về hiệu quả tác động đen doanh nghiệp lữ hành khi tham gia hoạt động trách nhiệm xã hội, họ khăng định tầm quan trọng cùa các doanh nghiệp khách sạn trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ là một giải pháp căn bản nhằm hướng đến phát triên du lịch bền vững tại Việt Nam. Tuy nhiên, “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp” được xem nền tảng chung cho mọi loại hình kinh doanh, chứ không phải chuyên sâu du lịch như là Du lịch có trách nhiệm. Thành phổ Hồ Chí Minh được xem là tinh thành có số lượng doanh nghiệp hì hành đông nhất toàn quốc với số lượng hơn 1.000 doanh nghiệp vào năm 2020, năm đã có số hrợng giảm đi do dịch Covid (Sờ Du lịch TP. HCM, 2021) có khả năng tạo nhiều ảnh hường du lịch ờ mức độ quốc gia.
Các doanh nghiệp lừ hành đóng vai trò rất lớn đến việc tô chức đưa khách đến tham quan các diêm đến ở trong nước và quốc tế. Chính vì thế, họ có những ảnh hường cụ thê đến các nhà cung cấp địa phương, 10 các điêm tham quan cũng như một tỷ lệ người đi du lịch khá lớn. Việc này gián tiếp tạo ra nhiều tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với các điêm đến, cộng đồng địa phương và người lao động.