Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng và thực tiễn thực hiện" do tác giả Vũ Huyền Anh (mã số sinh viên: 453524) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Ngô Thị Hường, thuộc chuyên ngành Luật Hôn nhân và gia đình (Hà Nội, 2024).
Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả chỉ ra rằng nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ đã được xác lập từ bản Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam, đặt nền móng pháp lý cho việc xóa bỏ tư tưởng phong kiến "trọng nam khinh nữ" và định hình nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong pháp luật hôn nhân và gia đình. Việc thực thi nguyên tắc này qua các thời kỳ đã bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và chồng trong và sau thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, quá trình áp dụng pháp luật hiện hành vẫn bộc lộ những vướng mắc, bất cập nhất định. Nếu không có các quy định cụ thể nhằm giải quyết các tồn đọng pháp lý, việc bảo đảm quyền bình đẳng thực chất giữa vợ và chồng trên thực tiễn sẽ gặp nhiều rào cản. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện từ cơ sở lý luận đến thực tiễn áp dụng nguyên tắc này là yêu cầu cấp thiết.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là làm rõ cái nhìn tổng quan về thực tiễn thực hiện nguyên tắc vợ chồng bình đẳng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và đời sống hôn nhân tại Việt Nam; chỉ ra các thành tựu, hạn chế, bất cập; từ đó đưa ra các khuyến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành trong đời sống xã hội.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, khóa luận xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số trong văn bản:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến nguyên tắc vợ chồng bình đẳng như khái niệm, đặc điểm và nội dung của nguyên tắc.
- Nghiên cứu nguyên tắc vợ chồng bình đẳng được thể hiện qua các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; chỉ ra những thành tựu và bất cập trong việc áp dụng, thực thi nguyên tắc trên thực tiễn.
- Đề xuất các kiến nghị, giải pháp xác đáng, khoa học có tính khả thi cho việc hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc vợ chồng bình đẳng tại Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Đối tượng nghiên cứu: Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong pháp luật hôn nhân và gia đình, các thành tựu và bất cập trong áp dụng, thực thi trên thực tiễn, cùng các giải pháp hoàn thiện pháp luật.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy định thể hiện nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản pháp luật liên quan.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực tiễn thực hiện nguyên tắc từ năm 2015 đến thời điểm thực hiện khóa luận (năm 2024).
- Phạm vi không gian: Thực tiễn áp dụng pháp luật và đời sống xã hội tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống văn bản pháp lý quốc tế, pháp luật quốc nội, các công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành và các lý thuyết pháp lý - xã hội học.
Văn bản pháp luật và điều ước quốc tế được sử dụng:
- Văn bản quốc tế: Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR năm 1948 - Điều 1, Điều 12, Điều 16); Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW năm 1981 - khoản 4 Điều 15).
- Văn bản pháp luật trong nước: Hiến pháp năm 1946 (Điều 9 Mục B); Hiến pháp năm 2013 (khoản 1 Điều 16, Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 24, Điều 26, Điều 36); Bộ luật Dân sự năm 2015 (khoản 1 Điều 39, Điều 43); Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 (khoản 5 Điều 4); Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Bộ luật Hình sự (Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-VPQH năm 2017 - Điều 165); Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (Điều 8).
- Pháp luật so sánh: Bộ luật Dân sự Pháp (Điều 1387), Bộ luật Dân sự Bỉ (Điều 1390), Luật Dân sự Thái Lan, Luật Hôn nhân Trung Quốc (Điều 19).
Các công trình nghiên cứu tiền đề được kế thừa:
- Luận văn Thạc sĩ Luật học của Trần Thị Mai Hương (2015), Nguyễn Thị Anh Thư (2021), Vũ Thu Thảo (2022).
- Các bài viết học thuật của PGS. Ngô Thị Hường trên Tạp chí Luật học số 05/2012 ("Bình đẳng giới trong gia đình") và TS. Nguyễn Phương Lan trên Tạp chí Luật học số 03/2006 ("CEDAW và vấn đề bình đẳng giới trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam").
Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả tiếp cận vấn đề từ lý luận đến thực tiễn, sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật.
- Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm thực tiễn.
- Phương pháp logic học và phương pháp lịch sử.
- Phương pháp phân loại và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.
Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu nghiên cứu bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, án lệ, tài liệu khảo sát của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS giai đoạn 2012-2015), số liệu thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (năm 2020), Bộ Giáo dục và Đào tạo (năm 2023), Bộ Công an (năm 2023), và báo cáo công tác tuyên truyền của Ban Chỉ đạo công tác gia đình huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh (giai đoạn 2019-2021).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc vợ chồng bình đẳng
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận nền tảng cho đề tài, bao gồm khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nội dung tổng quát của nguyên tắc vợ chồng bình đẳng:
- Khái niệm: Tác giả xác định nguyên tắc vợ chồng bình đẳng là nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình trên cơ sở nguyên tắc nam nữ bình đẳng đã được Hiến định. Theo đó, vợ và chồng có quyền, nghĩa vụ ngang bằng nhau trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau trong việc xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tài sản và nhân thân giữa vợ và chồng trong phạm vi các mối quan hệ gia đình, xã hội trong thời kỳ hôn nhân.
- Bốn đặc điểm cơ bản:
- Phụ thuộc chặt chẽ vào bản chất của chế độ xã hội qua mỗi giai đoạn phát triển: Chế độ cũ trao quyền lực vô hạn cho người đàn ông ("bán vợ, đợ con"), trong khi chế độ xã hội chủ nghĩa hiện đại xác lập vị thế ngang hàng giữa vợ và chồng.
- Thực hiện trên cơ sở nguyên tắc công bằng, dân chủ trong Hiến pháp: Kế thừa liên tục từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013 và được cụ thể hóa trong các đạo luật chuyên ngành.
- Đặt trong lợi ích chung của xã hội: Xuất phát từ nền văn minh lúa nước Á Đông coi gia đình là tế bào xã hội, quyền cá nhân về hôn nhân gia đình gắn kết chặt chẽ với lợi ích của gia đình và cộng đồng làng xã.
- Có mối liên hệ mật thiết với pháp luật: Nguyên tắc đòi hỏi phải được thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc chung để đảm bảo tính thực thi.
- Ba ý nghĩa pháp lý và xã hội:
- Là cơ sở để Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ.
- Là cơ sở pháp lý để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Tòa án, Công an...) can thiệp, giải quyết các hành vi xâm hại quyền lợi gia đình và xử lý tranh chấp hôn nhân.
- Là căn cứ pháp lý để bản thân vợ và chồng thực hiện, bảo vệ quyền và nghĩa vụ nhân thân, tài sản của mình.
- Nội dung nguyên tắc: Bao gồm bình đẳng trong quan hệ nhân thân (tôn trọng, lắng nghe, chia sẻ trách nhiệm) và bình đẳng trong quan hệ tài sản (minh bạch, thỏa thuận công bằng trong quản lý, định đoạt và phân chia tài sản).
Chương 2: Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng thể hiện trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
Chương 2 phân tích chi tiết kỹ thuật lập pháp và các điều khoản cụ thể của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 điều chỉnh ba nhóm quan hệ cơ bản:
| Nhóm quan hệ |
Điều khoản Luật HN&GĐ 2014 |
Nội dung thể hiện nguyên tắc bình đẳng |
| Quan hệ nhân thân |
Điều 19, 20, 21, 22, 23, 51, 52, 53, 54, 56, 71, 72, 81 |
- Nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ nhau và chia sẻ công việc gia đình (Điều 19). - Tự do thỏa thuận lựa chọn nơi cư trú, không lệ thuộc vào tập quán, địa giới hành chính (Điều 20). - Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ học tập, làm việc, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội (Điều 23). - Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 22) và danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau (Điều 21). - Quyền yêu cầu và thủ tục giải quyết ly hôn ngang nhau; bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình (Điều 51, 56). - Quyền và nghĩa vụ ngang nhau của cha mẹ trong nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cả trong và sau ly hôn (Điều 71, 81). |
| Quan hệ đại diện |
Điều 24, 25, 26, 27, 30, 36, 37 |
- Đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng dựa trên sự đồng thuận của cả hai bên (khoản 2 Điều 24). - Đại diện theo pháp luật khi một bên mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (khoản 3 Điều 24). - Đại diện cho nhau trong quan hệ kinh doanh chung (Điều 25) và yêu cầu lập văn bản khi đưa tài sản chung vào kinh doanh (Điều 36). - Trách nhiệm liên đới đối với giao dịch đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình và các nghĩa vụ chung về tài sản (Điều 27, 37). |
| Quan hệ tài sản |
Điều 28, 29, 33, 34, 35, 38, 43, 44, 47, 48, 59, 61, 62, 64, 107, 115 |
- Quyền tự do lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc theo thỏa thuận (Điều 28, 47, 48). - Bình đẳng trong tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; công nhận lao động trong gia đình như lao động có thu nhập (Điều 29, 33, 35). - Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản chung phải ghi tên cả hai vợ chồng (Điều 34). - Quyền tự chủ đối với tài sản riêng (Điều 43, 44), trừ trường hợp hoa lợi từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình. - Bình đẳng phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38) và khi ly hôn (Điều 59) dựa trên nguyên tắc chia đôi có tính đến hoàn cảnh, công sức, lỗi của các bên; phân chia tài sản trong doanh nghiệp và đất đai (Điều 61, 62, 64). - Bình đẳng về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi gặp khó khăn, túng thiếu (Điều 107, 115). |
Để minh chứng cho tính cần thiết của Điều 23 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tác giả đã trích dẫn dữ liệu khảo sát từ Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (giai đoạn 2012–2015) nhằm làm rõ các định kiến giới còn tồn tại:
| Nội dung khảo sát về định kiến giới (ISDS 2012–2015) |
Tỷ lệ đồng ý (%) |
| Phụ nữ chỉ cần học đến một trình độ nhất định để dành thời gian cho gia đình |
30,92% |
| Nam giới không muốn yêu hoặc kết hôn với phụ nữ có học vấn cao hơn mình |
~40,00% |
| Gia đình sẽ không hạnh phúc nếu người vợ có trình độ học vấn cao hơn chồng |
29,08% |
| Con trai cần được ưu tiên học hành khi gia đình gặp khó khăn về tài chính |
19,78% |
Chương 3: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc vợ chồng bình đẳng và giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc vợ chồng bình đẳng
Chương 3 phân tích thực trạng triển khai nguyên tắc trong đời sống xã hội và áp dụng pháp luật:
- Những kết quả đạt được:
- Về thực tiễn pháp lý: Nhà nước đã hoàn thiện hệ thống văn bản từ Hiến pháp đến các luật chuyên ngành; ban hành các chế tài xử phạt vi phạm hành chính (Điều 8 Nghị định 125/2021/NĐ-CP quy định mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi phân biệt đối xử về giới trong lao động, ép buộc hoặc nghiêm cấm lựa chọn nghề nghiệp vì định kiến giới) và chế tài hình sự (Điều 165 Bộ luật Hình sự về tội xâm phạm quyền bình đẳng giới). Các thiết chế chuyên trách như Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ (Bộ Công an) và Tòa Gia đình và Người chưa thành niên được thành lập, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền bình đẳng của các bên.
- Về thực tiễn xã hội: Công tác tuyên truyền pháp luật và xây dựng gia đình văn hóa được triển khai sâu rộng tại các địa phương (điển hình tại huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2019–2021 tổ chức 7 cuộc tuyên truyền cấp huyện với 567 lượt đại biểu và 175 cuộc cấp xã với hơn 7.000 lượt hội viên tham dự). Tỷ lệ doanh nhân nữ tăng cao (cứ 4 doanh nghiệp tư nhân có 1 doanh nghiệp do nữ quản lý, đóng góp 40% của cải cho nền kinh tế năm 2020); bình đẳng giới trong giáo dục được đẩy mạnh theo Kế hoạch hành động giai đoạn 2021–2030. Nhiều cặp vợ chồng đã chủ động chia sẻ công việc nhà, quản lý kinh tế và giáo dục con cái trên tinh thần tôn trọng, bình đẳng.
- Những hạn chế, bất cập còn tồn tại về mặt pháp lý:
- Thiếu cơ chế bảo đảm sự thỏa thuận thực chất giữa vợ và chồng: Pháp luật quy định nhiều giao dịch phải có sự đồng ý của cả hai bên hoặc theo thỏa thuận, nhưng chưa quy định cơ chế kiểm soát, chứng minh sự thỏa thuận đó có tồn tại hay không đối với các giao dịch thông thường, dẫn đến việc một bên tự ý xác lập giao dịch làm thiệt hại quyền lợi của bên kia.
- Khoảng trống pháp lý về chế định "ly thân": Hệ thống pháp luật hiện hành chưa có quy định điều chỉnh tình trạng ly thân (hai bên không chung sống nhưng quan hệ hôn nhân chưa chấm dứt). Điều này làm phát sinh các hành vi tẩu tán tài sản chung thành tài sản riêng, vay mượn tạo nợ chung giả tạo để buộc bên kia chịu trách nhiệm liên đới, và đùn đẩy trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng kết các kết quả nghiên cứu và đóng góp khoa học chính:
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và quy phạm: Khóa luận đã phân tích chi tiết cách thức thể chế hóa nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 trên cả ba phương diện: quan hệ nhân thân, quan hệ đại diện và quan hệ tài sản, đồng thời đặt trong mối tương quan so sánh với pháp luật quốc tế (CEDAW, UDHR, pháp luật của Pháp, Bỉ, Trung Quốc).
- Đánh giá thực trạng bằng số liệu thực chứng: Phân tích sự chuyển biến tích cực trong thực tiễn xã hội thông qua các chỉ số về vai trò quản lý kinh tế của phụ nữ (đóng góp 40% của cải kinh tế), các hoạt động tuyên truyền tại địa phương (huyện Cần Giờ) và thiết chế Tòa Gia đình và Người chưa thành niên.
- Chỉ rõ hai điểm nghẽn pháp lý thực tiễn: Tác giả đã xác định chính xác hai bất cập mang tính thời sự của pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành: sự thiếu hụt cơ chế pháp lý xác thực sự thỏa thuận của vợ chồng trong giao dịch dân sự và khoảng trống lập pháp đối với chế định ly thân.
- Giải pháp đề xuất: Đưa ra định hướng hoàn thiện các chế tài và quy định pháp luật nhằm kiểm soát giao dịch tài sản chung, đồng thời nâng cao hiệu lực thực thi nguyên tắc bình đẳng trên thực tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của khóa luận: Khóa luận chủ yếu tiếp cận theo phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật và tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các nghiên cứu xã hội học có sẵn (ISDS, các báo cáo ngành). Đề tài chưa triển khai khảo sát định lượng độc lập trên diện rộng tại hệ thống Tòa án các cấp về số lượng án tranh chấp tài sản liên quan trực tiếp đến hành vi vi phạm nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu thực nghiệm thông qua việc thống kê, phân tích các bản án, quyết định ly hôn và chia tài sản thực tế tại Tòa án nhân dân; nghiên cứu xây dựng khung pháp lý cụ thể cho chế định ly thân và cơ chế xác thực điện tử/văn bản đối với sự đồng thuận của vợ chồng trong các giao dịch tài sản giá trị lớn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, cũng như các nhà nghiên cứu về bình đẳng giới và quyền con người:
- Phần phân tích quan hệ tài sản (Chương 2): Cung cấp hệ thống lập luận rõ ràng về chế độ tài sản theo thỏa thuận, xác định tài sản chung - tài sản riêng, phân chia quyền sử dụng đất và tài sản đưa vào kinh doanh, hỗ trợ tốt cho việc học tập và thực hành kỹ năng giải quyết án hôn nhân gia đình.
- Phần so sánh pháp luật và lý luận (Chương 1 và Chương 2): Cung cấp các viện dẫn pháp luật quốc tế chuẩn xác (CEDAW, UDHR, luật của Pháp, Bỉ) phục vụ cho các đề tài nghiên cứu so sánh pháp luật.
- Phần thực tiễn và bất cập (Chương 3): Gợi mở các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về hoàn thiện quy định giao dịch tài sản và quản lý chế định ly thân cho các cán bộ nghiên cứu lập pháp, cán bộ tư pháp và hòa giải viên cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được phân tích trong khóa luận, lao động của vợ hoặc chồng trong gia đình được xác định như thế nào khi phân chia tài sản chung?
Theo khoản 1 Điều 29 và điểm b khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được trích dẫn trong khóa luận, lao động của vợ hoặc chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập. Khi phân chia tài sản chung, công sức đóng góp của người làm công việc nội trợ, chăm sóc gia đình được tính tương đương với người tạo ra thu nhập bên ngoài.
2. Khóa luận chỉ ra những loại tài sản chung nào bắt buộc phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của cả vợ và chồng khi xác lập giao dịch định đoạt?
Căn cứ khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc định đoạt phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng đối với 3 nhóm tài sản: (1) Bất động sản; (2) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu; (3) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.
3. Khóa luận dẫn chứng những quy định chế tài cụ thể nào trong pháp luật hiện hành để xử lý hành vi vi phạm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng?
Tác giả dẫn chứng Điều 8 Nghị định số 125/2021/NĐ-CP (phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi phân biệt đối xử, ép buộc, nghiêm cấm lựa chọn nghề nghiệp vì định kiến giới) và Điều 165 Bộ luật Hình sự (xử lý hình sự với hình phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 02 năm đối với hành vi vì lý do giới mà cản trở người khác tham gia các hoạt động xã hội).
4. Khóa luận phân tích bất cập pháp lý gì liên quan đến việc pháp luật hiện hành chưa quy định chế định "ly thân"?
Khóa luận chỉ ra rằng do pháp luật chưa có quy định điều chỉnh ly thân, trong thời gian không chung sống này, nhiều người đã tìm cách tẩu tán tài sản chung thành tài sản riêng, cố tình vay nợ để buộc bên kia chịu trách nhiệm trả nợ liên đới, đồng thời phát sinh mâu thuẫn, đùn đẩy trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục con cái.
5. Thiết chế tư pháp chuyên trách nào được khóa luận đánh giá là đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng khi giải quyết tranh chấp?
Đó là Tòa Gia đình và Người chưa thành niên. Khóa luận đánh giá thiết chế này có kiến thức chuyên sâu và kinh nghiệm xét xử các vụ việc hôn nhân gia đình, giúp giải quyết tranh chấp công bằng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cả hai bên và cung cấp các dịch vụ giáo dục, tư vấn pháp lý cần thiết.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Huyền Anh đã trình bày một cách có hệ thống cơ sở lý luận, các quy định pháp luật thực định và thực tiễn thi hành nguyên tắc vợ chồng bình đẳng tại Việt Nam. Công trình làm nổi bật sự tiến bộ của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 trong việc bảo vệ quyền nhân thân, đại diện và tài sản của các bên, đặc biệt là phụ nữ. Đồng thời, khóa luận đã nhận diện xác đáng hai khoảng trống pháp lý nổi cộm về cơ chế kiểm soát thỏa thuận giao dịch và chế định ly thân. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho việc nghiên cứu, giảng dạy và hoàn thiện chính sách pháp luật hôn nhân gia đình hiện nay.