CHƯƠNG 1 Nguyên tắc bình dang giữa vợ và chong đã ra đời từ rất lâu va được quy định trong Hiên pháp đầu tiên của Việt Nam, tuy nhiên cho đến hiện tại van chưa có khái niệm cụ thể về nguyên tắc nay, do đó có thé hiểu nguyên tắc vợ chéng bình dang la nguyên tắc cơ ban của Luật HN&GD trên cơ sở nguyên tắc nam nữ bình đăng đã được quy định trong Hiền pháp, theo đó vơ va chồng có quyên, nghĩa vụ như nhau, ngang bằng nhau trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau trong việc xác lập, thực hiện các quyên, nghĩa vu vê tai sản và nhân thân giữa vợ và chồng trong phạm vi các mới quan hệ gia đình, xã hội trong thời kỷ hôn nhân. Có bén đặc điểm chính về nguyên tắc nay: (1) nguyên tắc vợ chông bình đẳng phụ thuộc chặt chế vao bản chất của chế độ xã hội qua mỗi giai đoạn phát triển của đất nước; (2) nguyên tắc vợ chong bình đăng được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc công bằng, dân chủ trong Hiến pháp, (3) nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chông được đặt trong lợi ich chung của x4 hội; (4) nguyên tắc vợ chông bình đẳng có mi liên hệ mật thiết với pháp luật. Nguyên tắc nảy có ý nghĩa quan trong trong đời sông hôn nhân nói riêng va mở rộng ra quyên dan chủ, công bằng nói chung, cụ thể (1) nguyên tắc vợ chồng binh đẳng là cơ sở để ban hanh các văn bản pháp luật liên quan đến quyên lợi của người phụ nữ, (2) nguyên tắc vo chồng bình đăng là cơ sở pháp lý dé cơ quan Nhà nước có thầm quyền giải quyết các van đề liên quan tới quan hệ vợ chồng, (3) nguyên tắc vo chong bình đẳng lả cơ sở pháp lý để vợ và chông thực hiện các quyên và nghĩa vụ nhân thân va tai sản của bản thân vả các thành viên trong gia đình. Tiếp dén chương 2 tác giả sẽ phân tích sự cụ thể hóa của nguyên tắc vợ chồng binh đẳng trong quy định của Luật HN&GĐ năm 2014.
CHƯƠNG 2 NGUYEN TAC VO CHONG BÌNH DANG THẺ HIỆN TRONG LUẬT HON NHÂN VA GIA ĐÌNH NAM 2014 2. Vợ chồng bình đăng trong quan hệ nhân thân 2. Vợ chong binh đăng về nghĩa vu throng yêu, chung thity, ton trong, quan tam, cham sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thirc hién các công việc trong gia dinh Khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình hiện hành quy định: “Vo chông có nghia vụ thương yêu, chung thity, tôn trong, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sé, thirc hién các công việc trong gia đìnÌt “ Điêu nay phủ hợp với quan điểm của C Mac khi cho rằng “Nén chi riêng hôn nhân dua trên cơ sở tinh yêu mới la hop Gao đức thì cũng chỉ riêng hôn nhân trong tình yêu a6 được duy trì mới là hop dao đức mà thôi.” Ban chat của quan hé vợ chong bao gém tình yêu và nghĩa vụ. Như vậy, cái tư nhiên va cái xã hội luôn đan xen nhau, quan hệ biện chứng với nhau và không thể tách rời nhau”.
Chính vi vậy, trong quan hệ vợ chồng cả hai bên déu mong muốn được thé hiện tinh yêu và phải thực hiện day đủ nghia vu đôi với nhau, điều đó thé hiện sự chung thuỷ. Xét cho cùng, mục đích của hôn nhân trong chế độ ngày nay là xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng tiền bô hạnh phúc vả bên vững. Dé hôn nhân dat được mục dich đó thì cơ ban hai người trong quan hệ hôn nhân phải yêu thương nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau cing tiền bộ và nhất là phải cùng chung thủy với nhau vi đây không chỉ là quy định về mặt pháp ly ma đó còn là đòi hoi về mặt dao đức” 2. Vợ chông binh dang trong việc lia chon nơi cư trit Về nơi cư trú của vợ, chồng được định nghĩa tại khoản 1 Điều 43 BLDS năm 2015 là “noi vợ, chong thường xuỤ'ên chung sống ”, ngoài ra cũng cà Bếp Mabe cin Nan ones cñavợ chẳng nhền từ góc độ xã hội và pháp tý, Đặc saxvề “Vu Gia đình- Bộ Vẫn hóa, Thể thao và Du lịch, Pnighia ctia ste clung thay vợ cổng, tray cập tại: http -//giadinh bvietdl gov wy nghia-cur-su-clamg-thuy-vo-chong/ ngày 15/1/2024 13 tại điều luật nảy ở khoản 2 quy định “Vo, chông có thé có nơi cư trú khác nhau nếu có thỏa fimận”, như vay có thé thay được BLDS năm 2015 đã khẳng định sư bình đăng của vợ và chông khi lựa chọn nơi cư trú.
Quyên này một lân nữa lại được khang định tại Điêu 20 Luật HN&GĐ khi việc lựa chon nơi cư trú của vợ chông “dove chong thoa thuan, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hinh chinh” Theo đỏ nơi cư trú, tức chỗ ở của vợ chông phải do hai vợ chồng cùng thoa thuận lựa chọn. Su lựa chọn này không bị phụ thuộc vào phong tục tập quán của địa phương, vào địa giới hành chính, hay là sự định đoạt của người chông hoặc gia đình nhà chồng Sở di luật quy định như vậy do chỗ ở chính là nơi diễn ra đời sông sinh hoạt của mỗi cá nhân, lả nơi sinh ra, lớn lên va la địa điểm chủ yêu để xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vu dan sự của mỗi con người. Do vay nơi cư trú có vi trí quan trọng doi với cuộc sống của mỗi người. Việc quy định sự bình dang trong việc lựa chon nơi cư trú phù hợp theo tinh thần của khoản 4 Điêu 15 Công ước CEDAW? "các nước tham gia Công ước phải cho nam và nit những quyền như nha về mặt pháp luật liên quan đền việc đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú và chỗ ở của ho”.Vợ chong bình đăng về quyên và nghia vụ hoc fap, làm việc, tham gia hoạt động chinh tri, kink tế, văn hóa và xã hội Điều 23 Luật HN&GD đã quy định: “Vo, chồng có quyền.
ngiữa vụ tao điều kiên, giúp đỡ nhan chon nghề nghiệp; hoc tập, nâng cao trình độ văn hóa chuyên môn, nghiệp vu; tham gia hoạt động chính tri, Kinh tế, văn hóa xã ôi”. Đây là điểm khác biệt so với quy định tại Luật HN&GD năm 2000 khi các nhà làm luật đã nâng việc vợ và chông bình đẳng, tạo điều kiện cho nhau trên mọi lĩnh vực trong cuộc sống trở thành quyên va nghĩa vụ chứ không đơn thuan là việc vơ, chồng tao điều kiện cho nhau. Quy định nay hoản toàn phủ hợp với tinh than của nguyên tắc vợ chong bình dang và cực kì cân thiết trong xã hội ngày nay. Theo bao cáo dựa trên Lông ước xóa bỗ moi hinh thức phân biệt đôi xir với phụ nit (Convention on the Elimination of allforms of Discrmaimation agaist Women) nim 1981 14 cuộc nghiên cứu “Các yêu tô xã hội quyết định bat bình đẳng giới ở Việt Nam” do Viện nghiên cứu Phát triển Xã hội hoc thực hiện từ năm 2012 đến năm 2015 cho rang*: ”.
Gan một phẩn ba số người tham gia khảo sát (30.92%) đồng ý rằng phu nit chi cần học đến một trình độ nhất định dé con giành thời gian cho gia đình Khoảng 40% đồng ý rằng nam giới thường không nmỗn yêu hoặc kết hôn với những người pÌm nữ có hoc vẫn cao hơn mình Hơn một phan tư số người tham gia (29. 08%) cho rằng một gia đình sẽ không hanh phúc nếu người vợ có trình độ học vẫn cao hơn chồng. Gan một phẩn năm số người tham gia (19 78%) đồng ý rằng con trai cần được wn tiên học hành khi gia đình gặp khó khăn về tài chính. ”, những quan niệm trên đã vô tình tạo ra “hang rao” khiến cho phụ nữ không thé được tiếp cận với cơ hội học tập và phát triển trong x4 hội, đó là những quan niêm cần phải được xóa bỏ Ngoải ra, việc quy định về sự bình đẳng về quyên và nghĩa vụ học tập, làm việc, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội nhắm đến một quốc gia phát triển về moi mặt, đặc biệt trong lĩnh vực kinh.
Thực tế cho thây, phụ nữ khi được học tập và có cơ hội tham gia các quan hê xã hội đã đạt được nhiều thành tựu nỗi bật có thể kế đến như trong lĩnh vực kinh tế, tính đến năm 2020, Việt Nam lả một trong 20 thi trường doanh nhân nữ phát triển thuận lợi, mạng lưới doanh nghiệp nữ hoạt động hiệu quả nhất ASEAN. Theo số liệu của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, cứ 04 doanh nghiệp tư nhân thi có 01 doanh nghiệp có nữ giới tham gia quan lý doanh nghiệp, ho đã dong góp 40% của cải cho nên kinh tê. Trong lĩnh vực chính trị, phụ nữ ngày cảng nhận thức day đủ và tích cực, chủ đông thực hiện quyền công dân, nghĩa vụ đối với đất nước. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ ngày cảng được tăng cường va nâng cao về chat lương, nhiều người được tín nhiệm bau, bd nhiệm vào các vị tri lãnh đạo chủ chót của Dang, Nha nước, số lượng cán bộ nữ lá Ủy viên Trung ương, là đại biểu Quốc hội liên tục tăng qua các khóa gan * Viên Nghiễn cứu phát triển xã hội, Các yẩu tổ xã hội qué định bắt bin đẳng giới ở Việt Nem: Kết qua la nghiên cứu từ 2012 đến 2015 ,tr 39 15 đây”.
Có thé thay được vai trò của phụ nữ đổi với nên kinh tê - xã hội vô cùng quan trọng, và việc dé phu nữ được hoc tập, tham gia các hoạt đông kinh tế - xã hội là điều tat yếu, do vậy quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 lả hoàn toan hợp ly. Vo chong bình: đăng trong việc tôn trong tr do tin ngưỡng, Tôn giáo Quyên tu do tin ngưỡng, tôn giáo của công dân đã được khang định tai Điều 24 Hiến pháp năm 2013: “J. Moi người có quyền tee do tin ngưỡng. tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trong và bảo hộ quyền tự do tin ngưỡng. Không ai được xâm phạm tự do tin ngưỡng. ton giáo hoặc ioi dung tin ngưỡng.
tôn giáo dé vi phạm pháp luật”. Luật Hôn nhân và Gia đình cũng thé hiện su kế thừa tinh thân nay trong Điều 22: “Vợ, chồng có nghia vụ tôn trong quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nha”.