CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE NGUYEN TAC TO CHỨC VÀ HOAT DONG CUA HOP TAC XA 1. Khái niệm, tính chất va đặc điểm của các nguyên tắc tổ chức va hoạt động của hợp tác xã 1. Khái niệm và đặc điểm của hợp tác xã Khi nói đến hợp tác xã, nhiều người nghĩ rằng đó là một loại hình kinh tế kém phát triển và là sản phẩm riêng có của Chủ nghĩa xã hội. Nhưng trên thực tế, hợp tác xã đã tồn tại hơn một thế kỷ rưỡi và đã đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của nhiều nước.
Nơi hình thành hợp tác xã đầu tiên là một nước tư ban chủ nghĩa-nước Anh-với 28 người thợ dệt ở Rochdale. Theo Luật Hợp tác xã của Cộng hoà liên bang Đức (1989) thì: "Hợp tác xã là các hiệp hội không hạn chế số lượng thành viên, mục đích khuyến khích thành viên hành nghề hoặc làm kinh tế dựa vào doanh nghiệp tập thể" (Điều 1). Luật Hợp tác xã của Ind6néxia (1967) định nghĩa: "Hop tác xã ở Inđônêxia là tổ chức kinh tế của nhân dân mang đặc tính xã hội, có thành viên là các cá nhân hoặc các tập thể hợp pháp tự nguyện xây dựng lên một thực thể kinh tế, với nghĩa đồng lòng phấn đấu trên cơ sở tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau" (Điều 3). Luật Hợp tác xã của Philíppin (1990) định nghĩa: "Hợp tác xã là một tổ chức được đăng ký chính thức của một nhóm người có quan hệ lợi ích chung, tham gia tu nguyện để cùng nhau đạt được các mục đích kinh tế và xã hội hợp pháp, có đóng góp tương đương nhau về vốn, chấp nhận chia sẻ công bằng những thiệt hại cũng như lợi ích của việc kinh doanh, phù hợp với nguyên tắc hợp tác xã đã được chấp nhận phổ biến" (Điều 3).
Như vậy ta có thể thấy điểm nổi bật của hợp tác xã so với các tổ chức kinh tế khác ở chỗ: Hợp tác xã không những là một tổ chức kinh tế mà nó còn mang tính xã hội. Tính xã hội của hợp tác xã không phải ở chỗ hợp tác xã là một tổ chức từ thiện mà ở chỗ hợp tác xã là sự liên kết, hỗ trợ giữa các thành viên cùng nhau góp 5 vốn, góp sức; thể hiện sự công bằng giữa các thành viên về quyền lợi cũng như nghĩa vu. Như vậy, theo Luật Hợp tác xã của một số nước thì hợp tác xã có những đặc điểm sau đây: * Hợp tác xã là một tổ chức kính tế tự chủ được thành lập bởi các xã viên tự nguyện gop vốn, gop sức. Hợp tác xã được lập ra với mục đích tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vì lợi ích của các xã viên, vì tập thể và vì lợi ích chung của xã hội.
Chỉ có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sinh lợi nhuận thì mới duy trì được sự tồn tại của hợp tác xã và hợp tác xã mới thực hiện được mục tiêu xã hội của mình, mới là một tổ chức kinh tế tự chủ. Trong hợp tác xã, các xã viên ngoài việc góp vốn còn phải góp sức; nghĩa là các xã viên phải tham gia quản lý hợp tác xã hoặc lao động trong hợp tác xã và được trả thù lao theo năng suất và chất lượng lao động của từng người. Điều này khác với việc người đầu tư tham gia vào các công ty. Các thành viên thường chỉ góp vốn vào công ty để hưởng kết quả sinh lợi từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty; còn đa số hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty do những người lao động được thuê thực hiện.
Những người góp vốn vào công ty không nhất thiết phải đồng thời là người lao động trực tiếp tại công ty như xã viên trong nhiều loại hình hợp tác xã. * Trong hợp tác xã tồn tại chế độ sở hữu tập thể đối với các tư liệu sản xuất và tài sản. Toàn bộ vốn và tài sản của hợp tác xã đều thuộc sở hữu tập thể của các xã viên. Các xã viên có quyền làm chủ đối với tài sản chung, sử dụng tài sản đó trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của hợp tác xã.
Đại hội xã viên có quyền bàn bạc, thảo luận các vấn đề về sử dụng tài sản và phân chia thu nhập của hợp tác xã theo nguyên tắc dân chủ. Đặc điểm này giúp phân biệt hợp tác xã với công ty, mặc dù tài sản của công ty và tài sản của hợp tác xã đều hình thành từ nguồn vốn góp của các thành viên. 6 * Hợp tác xã được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, quản lý dan chủ và cùng có lọ. * Hợp tác xã có tư cách pháp nhân.
Điều đó có nghĩa là hợp tác xã chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác bằng vốn và tài sản của hợp tác xã. Các xã viên hợp tác xã chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính của hợp tác xã trong phạm vi vốn góp của mình * Hợp tác xã được thành lập bởi sốlượng xã viên tối thiểu nhất định. Luật Hợp tác xã mỗi nước đều quy định số lượng tối thiểu các xã viên để đảm bảo cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã có hiệu quả. Sự liên kết của các xã viên khi thành lập hợp tác xã nhằm mục đích hỗ trợ nhau phát triển.
Song nếu như số lượng xã viên quá nhỏ thì tính chất của sự liên kết đó chỉ dừng lại ở mức cộng tác, phối hợp nhỏ, thoả mãn yêu cầu kinh tế chứ không đáp ứng được yêu cầu xã hội rộng lớn của nền kinh tế quốc dân. Qua định nghĩa về hợp tác xã của một số nước trên thế giới, chúng ta thấy các nước đã xây dựng được một hệ thống các nguyên tắc khá phù hợp cho việc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã. Khái niệm, tính chất và đặc điểm của các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã (gọi tắt là các nguyên tắc hợp tác xã) 1.1 Khái nệm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tac xã. Thuật ngữ "nguyên tắc" được hiểu theo nghĩa chung nhất, đó là: "Điều cơ bản định ra nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” [4,tr302].
Các nguyên tác là sản phẩm của quá trình nhận thức thế giới khách quan, được đúc rút lại thành những nguyên lý, phản ánh những quy luật khách quan và được coi là kim chỉ nam cho một quá trình hoạt động. Trong khoa học pháp lý cũng vậy, bất cứ một hệ thống pháp luật nào cũng được xây dựng trên cơ sở những tư tưởng chỉ đạo nhất định. & mỗi quốc gia, trên cơ sở những mục tiêu trước mắt và lâu dài, Nhà nước xây dựng phương hướng cho việc điều chỉnh pháp luật trong các lĩnh vực. Trong hệ thống pháp luật, những tư 7 tưởng chỉ đạo đó xuyên suốt quá trình lập pháp cũng như quá trình thi hành va bao vệ pháp luật.
Để có sự thống nhất trong quá trình lập pháp, thi hành và bảo vệ pháp luật, cần phải có những nguyên lý chỉ đạo chung mang tính bắt buộc. Những nguyên lý chỉ đạo này được gọi là những nguyên tắc cơ bản của pháp luật. Hệ thống pháp luật về hợp tác xã cũng tuân theo những nguyên tắc cơ bản nhất định. Những nguyên tắc này được gọi là các nguyên tắc hợp tác xã và là cơ sở cho quá trình tổ chức và hoạt động của hợp tác xã.
Theo cách hiểu như trên, ta có thể nêu ra khái niệm nguyên tac tổ chức và hoạt động của hợp tác xã như sau: "Nguyên tac tổ chức và hoạt động của hợp tác xã là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, khách quan và khoa học được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về hợp tác xã, tạo thành cơ sở cho tổ chức và hoạt động của hợp tác xa".2 Tinh chất và đặc điểm của các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hop tác xa. Từ khái niệm trên có thể nêu ra tính chất, đặc điểm của các nguyên tắc hop tác xã như sau: Thứ nhất, các nguyên tắc hợp tác xã mang tính phổ biến, tính thống nhất. Các nguyên tac hợp tác xã được Liên minh Hợp tác xã quốc tế phổ biến rộng khắp ở các nước trên thế giới. Tất cả Luật Hợp tác xã các nước đều trực tiếp hay gián tiếp ghi nhận một cách đầy đủ các nguyên tắc này.
Các nguyên tắc hợp tác xã của Liên minh Hợp tác xã quốc tế được các nước cụ thể hóa thành các nguyên tắc hợp tác xã của mình trên cơ sở các điều kiện, trình độ của nước mình. Các nguyên tác hợp tác xã được áp dụng chung cho mọi loại hình hợp tác xã ở các nước. Mặc dù các nước đều ghi nhận các nguyên tắc hợp tác xã do Liên minh Hợp tác xã quốc tế dé ra nhưng không phải mọi nước đều thể hiện một cách hoàn toàn giống nhau. Có nước trực tiếp quy định các nguyên tắc hợp tác xã một cách day đủ tại những điều đầu tiên của Luật Hợp tác xã của mình; nhưng cũng có những nước, các nguyên tac hop tác xã được thể hiện trong nhiều điều luật, trong nhiều chế định 8 trong Luật Hop tác xã.
Có su khác nhau như vay bởi lẽ mỗi nước có những hoàn cảnh kinh tế - xã hội khác nhau, có nền văn hoá pháp lý và có hệ thống pháp luật mang đặc trưng riêng của mình. Vì những sự khác biệt đó mà các nguyên tắc hợp tác xã được thể hiện một cách da dạng, linh hoạt và uyén chuyển cho phù hợp với điều kiện riêng của mỗi nước. Tuy vậy, hệ thống các nguyên tắc hợp tác xã được ghi nhận trong luật pháp các nước không mâu thuẫn với nhau. Tính thống nhất của các nguyên tắc hợp tác xã còn được thể hiện ngay trong hệ thống pháp luật về hợp tác xã của mỗi quốc gia.
Các nguyên tắc hợp tác xã được ghi nhận trong Luật Hop tác xã các nước đều tương đối giống nhau. Giữa các nguyên tắc hợp tác xã trong pháp luật mỗi nước cũng có sự thống nhất với nhau; không có nguyên tắc nào mâu thuẫn, loại trừ nguyên tắc nào. Bởi vì mỗi nguyên tắc trong hệ thống nguyên tắc hợp tác xã ấy đều xuất phát từ bản chất của hợp tác xã. Thứ hai, các nguyên tắc hợp tác xã mang tính lịch sử và tính ổn định tương đối.