Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC NHÂN ĐẠO ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1.1 Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 1.1 Khái niệm của nguyên tắc nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Trong tiến trình phát triển của nhân loại, nhân đạo luôn là niềm khát vọng cháy bỏng của con người. Cùng với những giá trị xã hội khác như công bằng, bình đẳng, dân chủ, pháp luật.nhân đạo là giá trị xã hội có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của xã hội nói chung và của mỗi con người nói riêng. Tồn tại với tính cách là một trong những giá trị xã hội quan trọng, nhân đạo ngày càng được khẳng định đầy đủ hơn trong các mối quan hệ giữa xã hội và cá nhân, giữa nhà nước và công dân, giữa các tổ chức xã hội và các thành viên của chúng, giữa con người và con người trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực pháp luật, nhân đạo được thể hiện đầy đủ nhất và mạnh mẽ nhất, trở thành nền tảng tư tưởng, nội dung, thuộc tính và nguyên tắc của nó.Vấn đề nhân đạo là vấn đề con người, vốn được hiểu là “cái đức yêu thương con người, trên cơ sở tôn trọng phẩm giá, quyền và lợi ích của con người”, “là đạo đức thể hiện tình thương yêu với ý thức tôn trọng giá trị phẩm chất của con người”, là một từ ghép gốc Hán với nghĩa nhân là người và đạo là đường. Nhân đạo là đường làm người, là đạo làm người, là thương yêu tôn trọng, bảo vệ giá trị, phẩm giá và quyền sống của con người.Đặc biệt, đối với con người chưa hòa thiện về thể chất và tinh thần, thì sự nhân đạo càng được chú trọng và đặt lên hàng đầu.
Người dưới 18 tuổi là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân cách (thể chất và tinh thần), chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân. Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa 10 là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Ở Việt Nam, độ tuổi người dưới 18 tuổi được xác định thống nhất trong Hiến pháp (mới đây nhất là Hiến pháp năm 2013), BLHS sự năm 1999, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Luật xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người dưới 18 tuổi là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người dưới 18 tuổi trong từng lĩnh vực cụ thể.
- Khái niệm người dưới 18 tuổi khác với khái niệm trẻ em.Theo Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Tóm lại, khái niệm người dưới 18 tuổi được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia.Theo đó, người ta quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của người dưới 18 tuổi. Như vậy, về khái niệm: Người dưới 18 tuổi là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên. Ở Việt Nam, tuổi kết nạp Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh là từ 10 đến 15 tuổi, tuổi kết nạp Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là từ 15 đến 30 tuổi.
Trong tuổi Đoàn gọi là thanh niên, trong tuổi Đội là thiếu niên, dưới tuổi Đội gọi là nhi đồng. Ở mỗi lứa tuổi, người dưới 18 tuổi được Nhà nước và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục để phát triển tốt nhất về thể chất và nhân cách, trở thành người khỏe mạnh, có ích cho xã hội. Năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của con người không hình thành ngay khi sinh ra mà được tích lũy theo thời gian và kinh nghiệm sống. Chính vì vậy, tuổi tiền đề để đánh giá tính chất, mức độ trưởng thành của cá nhân, theo chuẩn mực quốc tế thì người dưới 18 tuổi cần được bảo vệ đặc biệt.
Trong lĩnh vực hình sự, người dưới 18 tuổi phạm tội được coi là người có năng lực nhận thức 11 và năng lực điều khiển hành vi hạn chế. ở những người dưới 18 tuổi, hệ thống giá trị bên trong chi phối hành vi, xử sự chưa phát triển một cách ổn định, bền vững, khả năng tự kiềm chế chưa cao, vì vậy họ có thể thực hiện tội phạm do bị người khác dụ dỗ, kích động, thúc đẩy, lôi kéo. Ngoài ra, với năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi còn hạn chế, họ có thể thực hiện tội phạm do ý thức chưa đầy đủ về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, đánh giá sai các tình huống và yêu cầu của xã hội. Tính đặc thù và tâm lý người chưa đủ 18 tuổi nói chung và người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng, một số văn kiện quốc tế đưa ra những quy định đặc biệt bảo vệ họ trong lĩnh vực tư pháp hình sự như Công ước của Liên hợp quốc về các quyền trẻ em năm 1989; Những quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật đối với người dưới 18 tuổi năm 1985 (Quy tắc Bắc Kinh); Quy tắc về bảo vệ người dưới 18 tuổi bị tước tự do năm 1990.Tại Công ước Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 khẳng định mọi trẻ em trên thế giới, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản hoặc dòng dõi đều có quyền được hưởng những biện pháp bảo hộ cần thiết của người dưới 18 tuổi và tư tưởng định hướng, chi phối toàn bộ quá trình xử lý, biện pháp xử lý người dưới 18 tuổi tại quy tắc Bắc Kinh và Quy tắc về bảo vệ người dưới 18 tuổi bị tước tự do là quan tâm hàng đầu đến lợi ích tốt nhất của họ.
Việt Nam đã gia nhập Công ước về quyền trẻ em và cam kết thực hiện việc áp dụng mọi biện pháp bao gồm cả biện pháp lập pháp để bảo dảm các quyền của trẻ em. Trên cơ sở các chuẩn mực chung đó, Nhà nước ta đã thể hiện trong các quy định của BLHS với chính sách khoan hồng, thu hẹp phạm vi xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, áp dụng những biện pháp xử lý tốt nhất đối với họ. Nhân đạo, như đã nêu là phạm trù đạo đức thừa nhận và tôn trọng danh dự, nhân phẩm của con người, coi con người là giá trị cao nhất, coi mục đích của các quá trình phát triển xã hội và của sự tiến bộ xã hội là vì lợi ích của mọi người và đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi với sự hạn chế nhất định về năng lực nhận thức và năng lực hành vi như đã phân tích ở trên thì sự nhân đạo càng cần được xem trọng 12 và đặt lên hàng đầu.Trong lĩnh vực xã hội pháp luật, nhân đạo thể hiện ở chỗ không phải con người tồn tại vì pháp luật mà ngược lại, Pháp luật phải tồn tại vì con người. Do vậy, tư tưởng nhân đạo phải là nền tảng cho nội dung của hệ thống pháp luật, và là nguyên tắc cơ bản khi xử lý người dưới 18 tuổi và “chi phối chẳng những phương pháp điều chỉnh pháp luật, mà còn chi phối cả tính chất của các quan hệ pháp lý cũng như các hoạt động của các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật”.Với nghĩa đó, nhân đạo không chỉ phải trở thành nguyên tắc của hệ thống pháp luật còn là nguyên tắc cơ bản đối với người dưới 18 tuổi.
Trong xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội, luật hình sự phải đồng thời đạt được các mục đích: bảo vệ các lợi ích khác nhau trong xã hội và cải tạo giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội thành người lương thiện, có ích cho xã hội và không phạm tội mới. Nói cách khác, luật hình sự bảo vệ xã hội khỏi sự xâm phạm của người dưới 18 tuổi phạm tội, đồng thời trả lại cho xã hội chính con người đã từng xâm hại nó sau khi đã được giáo dục, cải tạo, đặc biệt là người dưới 18 tuổi phạm tội vì các em còn tương lai và khả năng cải tạo để tiếp tục cuộc sống giúp ích cho xã hội. Những mục đích đó chỉ có thể cùng đạt được một khi người dưới 18 tuổi phạm tội được đối xử một cách nhân đạo, tức được áp dụng những biện pháp tác động không gây đau đớn về thể xác, không xúc phạm danh dự, nhân phẩm con người, được áp dụng hình phạt cũng như các biện pháp cưỡng chế hình sự khác chỉ đến mức “cần” và “đủ” cho việc cải tạo, giáo dục và phòng ngừa họ phạm tội mới v.mà tựu chung lại vốn là những biểu hiện của sự giảm nhẹ TNHS, hình phạt mà nói trừu tượng hơn nữa là những biểu hiện của sự khoan hồng của luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Nguyên tắc của luật hình sự là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng, áp dụng và hoàn thiện pháp luật hình sự.
Các nguyên tắc của luật hình sự phản ánh những quy luật kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của một chế độ nhất định mà dựa trên cơ sở đó luật hình sự được xây dựng và áp dụng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. 13 Với ý nghĩa là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo, nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự là nền tảng cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự.Vì vậy, trong hoạt động xây dựng pháp luật hình sự nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự là cơ sở để xây dựng quy phạm pháp luật hình sự. Nội dung của các quy phạm pháp luật hình sự phải phản ánh được tinh thần các nguyên tắc của luật hình sự hay nói cách khác nội dung của các quy phạm pháp luật hình sự phải hàm chứa tư tưởng của các nguyên tắc luật hình sự.