CHƯƠNG 1 MOT SÓ VAN DE LY LUẬN VE NGUYEN TAC HON NHAN MOT VO MOT CHONG 1. Khái niệm và đặc diem của nguyên tắc hôn nhân mộtvợ một chong 1. Khái wigm nguyêu tắc hon uhâm một vợ tuột chồng Theo quan niệm của Không Tử “Gia dinh từ ngàn xua đã được coi là nền ting của xã hồi. Gia đình có vững mạnh, nén tảng xã tắc mới ôn đình “2.Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nhận thức được tâm quan trọng và luôn quan tâm đến vai trò của gia dinh Va để mới quan hệ gia đính có thé vững chắc, xã hội phát triển thi hôn nhân hạnh phúc phải được đâm bảo khỏi những tác động tiêu cực, đặc biệt là sự “chen chân” của người thứ ba.
Vi vậy nên nguyên tắc hôn nhân một vợ một chẳng được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản gắn liên với sự hình thành và phát triển của gia đính Việt Nam Trong thời ky nguyên thủy, ban đầu con người sông thành từng bây đàn và hình thức hén nhân chủ yếu là quân hôn, nơi mỗi thé hệ tập trung thành tùng nhóm hôn nhân nhật dinh. Day là kiểu gia đính huyết tộc, anh, chi, em đông thời là vợ chông của nhau (cam cha, me với cơn cai). Sau đó, gia đính cao hơn trong chê độ quan hôn 1a hành thái hôn nhân gia dinh Pu na-lu-an với việc tên tại quan hệ nhiéu vợ nhiều. chẳng Tiếp dén là bước tiên mới, thé liện y thức xã hội phát triển là gia đính đổi ngẫu.
Giai đoạn nay quan hệ hôn nhan được xác định rõ ràng hơn, một người dan ông chỉ được kết đôi với một người phụ nữ nhất định và ngược lại. Có thé coi hình thức hôn nhân cao nhất và bên vũng nhất trong xã hội nguyên thủy là hôn nhân một vợ chéng PH Angghen đã kết luận rằng chế độ hôn nhén một vợ một chồng này “Gia dinh cá thé là hình thức gia đình đâu tiên không căn cứ vào điều kiện lạnh tế và sự thẳng lot của chế đồ tư hữm đối với chế độ công hitu lúc ban đâu được hình thành một cách tự phát”). Tuy nhiên, vấn tồn tại các vân đề và khia canh tiêu cực như: sự thông tri của người chong quyền lực của người chồng trong các quyết định về con cái,. Có thé thay quan hệ hôn nhân một vợ một chồng lúc này mới chi đặt ra đối với Th§ Nguyen Phương Lan, “Gia tri của Quốc tiểu hờn: luật qua các quy dinh điều chinh quan hệ hôn nhân.
và gia đầh:”,r386-410/ TS Lê Thị Sơn- chủ biên (2004), “Quoc triều hình init — Lich sithinh thành nội ding và giá ui? NXB Khoa học số hội, Hà Nội. Angghen (1995), “N|guôn goc của gia dinh, cia chế đô từ hữu vì của Nhà nước”, C Mic — Ph Angghan, toàn tip, tập 21, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội. § người vo ma không dat ra đổi với người chong, Ché đô hôn nhân một vo một chong lúc này mang tinh giả tao và hình thức. Trong chê độ phong kiên, hôn nhân một vợ một chồng thường thé hiện sự bat tình đẳng giới tính và ưu ái cho phái nam.
Trong nhiéu xã hội phong kiến, người đản ông thường được phép có nhiều vợ nhu người đầu tiên là vợ cả sau đó là vợ hai, vợ ba, các thiếp., trong khi người phụ nữ chi được phép có một chồng ngay cả khi chẳng chết: “Phu nữ nhật da da phu, cam chịu tiêng xấu ngàn đời". Điều nay thường được thực liện mét cách công khai và được xã hội chấp nhén va bão vệ. Trong thời ky tư ban chủ nghía, chế đô hôn nhân một vợ mét chồng thường được coi là biểu hiện của sự tiên bộ và bình đẳng giới tinh trong xã hội.Quyền lợi và trách nhiệm của vợ và chồng được công nhận bằng pháp luật, và su trung thanh và tôn trong trong môi quan hệ hôn nhân được đề cao. Tuy nhiên, thực té cho thay xã hội này van còn dung túng và bat tay cho các hành vi như mai dâm và ngoại tinh Việc tôn tại các hành vi này một cách công khai cũng là một minh chứng cho việc hôn nhân một vợ một chồng ở thời kỳ nay vẫn chưa thực su mang đúng ban chat của nó, và con phải đối mặt với nhiều thách thức và van đề khée nhau.
Hôn nhântrong bồi cảnh của xã hội chủ nghia thể hiện sự thay đổi và tiên triển trong quan điểm về hôn nhân trong một nên văn minh xã hội mới. Trong x4 hội chủ nghĩa, người phụ nữ được tên trong và không con bi coi là vật sở hữu của người chỗng ma có quyền tư do và sự lựa chọn trong việc quyết định về hôn nhén và cuộc sông của minh Từ đó, hôn nhân không còn là một thỏa thuận hoặc sự chap nhận do ap đặt của xã hôi. Thay vào đó, nó được xem là một môi quan hệ tự nguyện, dua trên. tình yêu và sự hiểu biết giữa hai người, bật kế giới tính hay địa vị xã hội.
Đông thời, chê đô hôn nhân một vợ một chẳng trở nên thực chất, phô biên và được coi 1a phản ánh chính xác nhật của tình yêu và su tôn trọng đối với cá nhên trong xã hội chủ ngiữa. Day là hình thức hôn nhân binh dang va tư nguyện giữa hai người, không bị ap dat bởi bất ky quyền lực nao bởi khi nay cuộc cách mang xã hội chủ ngiĩa đã gop phân xóa bỏ tat cả những hình thức tư hữu về tư liệu sẵn xuất, ké cả những quan hệ do chế đô tư hữu đó sinh re: “Hiển nay, chứng ta dang tién tới một cuộc cách mang xã hội, trong đó các cơ sở kinh tê từ trước tới nay của chế một vợ một chồng cíng như cơ sở của điều bễ sung cho nó là nam mại đâm, đều nhất định sẽ bị tiêu diét. các he liệu sẵn xuất mà được chuyên thành tài sản xã hội thì chế độ lao động làm thuẻ, 9 giai cấp vô sản cing sẽ bién mat, và đồng thời cũng sẽ không còn một tinh trang một số phụ nit. cân thiết phải ban mình vì đồng tiền nữa.
Chế đồ một vợ một chồng không những không suy tàn mà cuối cùng lai còn trở thành một hiện thực - ngay cả đối với đàn ông nitaTM. Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lénin đã du báo được sự ra đời, phát triển của ga định một vợ một chồng là một bước tiền trong tương lai. Tuy nhiên, chế độ một vợ mt chông chỉ có thể phát trién tron ven khi được xây đựng trong gia dinh xã hội chủ ngiữa, phù hợp với tiên trình của lich sử. Trên thực tế, có nhiêu cách hiéu về hôn nhn từy thuộc vào tôn giáo, phong tục tập quán của mỗi quốc gia.
Chẳng hạn như “Hồn nhân là hành vi hoặc tình trang chung sông giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chong" * hay “Hôn nhân (Marriage) là một môi quan hệ được công nhận vé mặt pháp lý giữa hai người ma họ sông củng nhau hoặc một nghĩ lễ chính thức dẫn đền mới quan hệ nay"! Trong hệ thông pháp luật Việt Nam biên hành, Điêu 3 Luật HN&GD năm 2014 quy đính: “ổn nhân là quan hệ giữa vo và chồng sau khi kết hôn”. Khái niệm hôn nhân cũng đã được một sô người nghiên cứu đưa ra dinh nghiia: "Hôn nhân là sự hợp nhất được công nhận về mặt văn hóa giữa những người được coi là vợ chong Hôn nhân tạo ra quyên lợi và nghia vụ giữa ho với nhau, cũng như giữa ho với con cái, với những thành viên trong gia đính của hai bên ” Hôn nhân là sự gắn kết giữa một bên nam và nữ được pháp luật và moi người công nhận, là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi két hôn, sau khi thực hiện các quy định của pháp luật về kết hôn nhằm chung sống chung và xây dung gia dinh hạnh. phúc, bình đẳng, tiên bô. Sư kiện kết hôn làm phát sinh những quyên lợi và nghĩa vụ giữa họ với nhau, giữa ho và cơn cái của ho và những người thân của họ.
Thông qua việc kết hôn một gia đính mới được ra đời. Bên canh đó, Điều 36 Hiền pháp năm 2013 quy dink: “Hồn nhân là sự kết hợp đặc biệt dựa trên nguyên tắc bình đẳng tự nguyễn, tiễn bé, một vơ một chồng vo chồng bìnhđẳng" “ Như vậy có nghiia rằng Nhà nước Việt Nam chỉ công nhận hôn nhân giữa một vợ và mét chong Nghia là người +Ph. Ăngghen (1995), ‘gun gc, của gia đình ,của chế 6 trhite và của Nhà rước”, C Mic - Bh Angghin, toàn tập tập21,NXB Chính trị quốc,oa, Hà Nội. * Viện Vật Nun (1991), “Quốc triều hàth mật", NXB Pháp lý, Hi Nội È '3Mmriige”, Từ điển Cambridge- Cambridge dictionarlam ° Để Thị Bich Ngọc C1015), Nguyện ắc hãy hàn mat vợ mt chẳng vi tc cẩn thục hiện", Luận vin Thạc sĩ, Tường Daihoc Luật Hà Nội, Ha Nội.
10 đàn ông chỉ được lay một vợ và người đàn bà chỉ được lây một chéng và một vợ một chông phải xuất phát từ hai phía chứ không chỉ riêng từ phía người phụ nữ mà cả người dan ông cũng phải chấp hành. Và dé đưa ra khái tiệm nguyên tắc hôn nhân mét vợ một chong thi ta cân tim hiểu khái niém nguyên tắc. Theo Tử điền Tử và N gữ Việt Nam, “nguyên tắc” (nguyên là gốc, tắc là phép tắc) là điều cơ bản đã được quy định, nhất thiết phải tuân theo, dùng làm cơ sở cho các mdi quan hệ xã hội. N guyên tắc còn là rhững điều cơ bản rút ra từ thực tế khách quan dé chỉ đao hành độngÊ Va theo Từ điển Luật học, nguyên tắc pháp luật gồm hai loại, những nguyên tắc chung mang tính chất chính trị - xã hội của pháp luật và những nguyên tắc pháp lý đặc thù.
Các nguyên tắc chung của pháp luật luôn phén ánh một cách trực tiếp ché độ xã hội hiện hữu va được đặt ra nhằm xác định 16 những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo dé giải đáp một vân đề lớn là hệ thông pháp luật hiện hữu củng cô và bảo vệ ché đô nào. Các nguyên tắc pháp lý đặc thù thé hiện 16 bản chat và những đặc trưng của pháp luật nhằm giải đáp một số van đề có tính đặc thù là hệ thông pháp luật sẽ cũng cô và bảo vệ ché độ xã hội đó như thê nao Qua các tiếp cận trên cho thây, “nguyên tac? là những điều cơ bản đất ra dựa trên những quan điểm, cách tiép cận trong giải quyết một van đề nhật định, buộc các chủ thé phế: tuân theo. Nghia 1a bat ky hoạt động có mục dich nào trong cuộc song cũng đều phải dựa trên cơ sở nguyên tắc nhật dinh.