Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường trực tiếp hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vị trí cốt lõi của thiết chế này: "Quan tâm đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia đình". Để bảo vệ sự bền vững của quan hệ hôn nhân và gia đình, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã được xác lập thành một trong những nguyên tắc nền tảng xuyên suốt hệ thống pháp luật Việt Nam, thể hiện rõ tại Khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hóa, mặt trái của nền kinh tế thị trường cùng sự xâm nhập của các trào lưu ngoại lai đã tạo ra lối sống thực dụng, làm mai một các giá trị đạo đức truyền thống. Tình trạng ngoại tình, sống chung như vợ chồng trái pháp luật và các hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng diễn biến phức tạp, gây ra nhiều hệ lụy cho gia đình và xã hội. Trước thực trạng đó, khóa luận tập trung nghiên cứu đề tài: "Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và thực tiễn thực hiện".
Mục tiêu nghiên cứu:
Làm rõ các vấn đề lý luận về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng; phân tích nội dung nguyên tắc theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành; đánh giá thực tiễn thi hành, nhận diện các dạng hành vi vi phạm và nguyên nhân; từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trong đời sống xã hội.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nêu và phân tích các vấn đề lý luận về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng.
- Đánh giá thực tiễn thực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống lý luận về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng; các quy định pháp luật điều chỉnh nguyên tắc này trong Luật Hôn nhân và Gia đình cùng các văn bản liên quan; thực tiễn thi hành và hoạt động áp dụng pháp luật xử lý hành vi vi phạm.
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành; thực tiễn áp dụng qua các vụ việc cụ thể từ khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực đến nay. Đề tài không nghiên cứu quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về hôn nhân và gia đình. Tác giả vận dụng học thuyết của Ph. Ăng-ghen trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước" để lý giải sự tiến hóa của các hình thái hôn nhân từ quần hôn, gia đình Punaluan, gia đình đối ngẫu cho đến chế độ hôn nhân một vợ một chồng.
Hệ thống văn bản pháp luật làm cơ sở nghiên cứu:
- Hiến pháp năm 2013 (Điều 19, 20, 36).
- Luật Hôn nhân và Gia đình các năm 1959, 1986, 2000 và 2014.
- Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) – Điều 182.
- Nghị định số 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Hộ tịch.
- Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình.
- Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội và Nghị quyết số 01/1988/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
- Quy định số 69-QĐ/TW năm 2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các khái niệm, đặc điểm, cấu thành pháp lý của hành vi vi phạm và các chế tài xử lý.
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa bức tranh lý luận và lịch sử lập pháp về hôn nhân một vợ một chồng qua từng thời kỳ.
- Phương pháp thống kê: Tập hợp số liệu xã hội học từ Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, số liệu về tôn giáo tại Việt Nam và các vụ việc vi phạm thực tế tại các địa phương để làm căn cứ thực chứng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
Tác giả hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng, làm rõ khái niệm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là tư tưởng mang tính chỉ đạo, xuyên suốt trong hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình; quy định người đang có vợ, có chồng không được kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác và ngược lại.
Khóa luận phân tích 04 đặc điểm cơ bản:
- Là nguyên tắc hiến định và cơ bản điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình.
- Là nguyên tắc độc lập trong hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình.
- Tồn tại trong mối quan hệ gắn bó, bổ sung mật thiết với các nguyên tắc khác (tự nguyện, tiến bộ, bình đẳng).
- Phản ánh sự tiến bộ và phát triển xã hội trong việc bảo đảm quyền tự do, dân chủ và bình đẳng giới.
Về mặt giá trị, nguyên tắc mang 08 ý nghĩa lớn: duy trì tình yêu và hạnh phúc gia đình; bảo vệ bình đẳng giới, xóa bỏ hủ tục phong kiến; thể hiện tư tưởng tiến bộ của Nhà nước; bảo vệ quyền tự do lựa chọn của cá nhân; hạn chế nạn bạo lực gia đình; giữ gìn truyền thống văn hóa và đạo đức xã hội; thúc đẩy phân bổ hợp lý nguồn lực kinh tế - xã hội; và làm cơ sở pháp lý xử lý các vi phạm pháp luật.
Khóa luận chỉ ra 04 nhóm yếu tố chi phối việc quy định nguyên tắc:
- Yếu tố văn hóa: Số lượng tín đồ tôn giáo tại Việt Nam đạt trên 26,5 triệu người (chiếm 27% dân số), gồm hơn 14 triệu tín đồ Phật giáo với 18.544 cơ sở thờ tự, hơn 7 triệu tín đồ Công giáo với 7.771 cơ sở thờ tự (số liệu năm 2021) — các tôn giáo này đều đề cao sự chung thủy và chế độ một vợ một chồng.
- Yếu tố kinh tế, xã hội và cá nhân: Sự phát triển kinh tế thị trường nâng cao vị thế độc lập của phụ nữ, đồng thời yêu cầu nâng cao nhận thức cá nhân về quyền bình đẳng trong gia đình.
Về lược sử lập pháp, tác giả phân chia và đánh giá tiến trình phát triển qua 2 giai đoạn lớn:
- Trước năm 1945: Pháp luật phong kiến (Bộ luật Hồng Đức các Điều 309, 481, 483, 484) và các bộ Dân luật thời Pháp thuộc (Dân luật Bắc Kỳ 1931 - Điều 79, 80; Dân luật Trung Kỳ 1936; Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883) đều thừa nhận chế độ đa thê, phân biệt đối xử bất bình đẳng giữa vợ cả và vợ lẽ.
- Sau năm 1945 đến nay: Bắt đầu từ Điều 9 Hiến pháp 1946, Sắc lệnh 97-SL năm 1950; chính thức luật hóa tại Điều 1 và Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 1959; hoàn thiện dần qua Luật năm 1986 (kèm Thông tư 60/TATC và Nghị quyết 01/1988/NQ-HĐTP giải quyết trường hợp cán bộ tập kết); Luật năm 2000 (Điều 2, Điều 4) và hiện nay là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Chương 2: Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng theo quy định của pháp luật Việt Nam
Chương này đi sâu vào các khía cạnh kỹ thuật pháp lý điều chỉnh và chế tài bảo vệ nguyên tắc:
-
Trong điều kiện và thủ tục kết hôn: Khóa luận phân tích Khoản 1 Điều 2, Điều 8 và Điểm c Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Phân loại "người đang có vợ, có chồng" theo Khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP gồm 03 trường hợp: (1) Đã kết hôn hợp pháp nhưng chưa ly hôn và người kia chưa chết; (2) Chung sống như vợ chồng xác lập trước ngày 03/01/1987 chưa đăng ký kết hôn (áp dụng Điều 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10); (3) Kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn nhưng đã được Tòa án công nhận bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Thủ tục cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo Nghị định số 123/2015/NĐ-CP (có giá trị 6 tháng) là rào cản kỹ thuật quan trọng nhằm loại trừ việc vi phạm nguyên tắc.
-
Cơ chế xử lý theo pháp luật hôn nhân và gia đình: Phân tích thẩm quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật (Khoản 2 Điều 10). Tòa án có 03 hướng giải quyết tùy thuộc vào điều kiện thực tế theo Điều 11 Luật năm 2014 và Điều 4 Thông tư liên tịch 01/2016: Hủy việc kết hôn trái pháp luật; Công nhận quan hệ hôn nhân (nếu tại thời điểm xét xử đã đủ điều kiện và hai bên cùng yêu cầu); hoặc Giải quyết cho ly hôn. Đồng thời, tác giả làm rõ hậu quả pháp lý về nhân thân, tài sản (giải quyết theo Điều 16 hoặc Điều 59) và quan hệ cha mẹ - con cái (Điều 12, 58, 81–84).
-
Chế tài hành chính và hình sự:
| Hình thức chế tài |
Văn bản căn cứ |
Hành vi và Mức xử phạt |
Điểm mới / Đặc trưng pháp lý |
| Xử phạt hành chính |
Khoản 1 Điều 59, Điểm b Khoản 2 Điều 83 Nghị định 82/2020/NĐ-CP |
Phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng đối với hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng khi một/hai bên đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Thẩm quyền: Chủ tịch UBND cấp xã. |
Đã bỏ cụm từ "nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng" so với Nghị định 87/2001/NĐ-CP; tăng mạnh mức phạt so với Nghị định 110/2013/NĐ-CP (mức cũ từ 1.000.000 đến 3.000.000 đồng). |
| Xử lý hình sự |
Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) |
- Khung 1: Cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. - Khung 2: Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. |
Cụ thể hóa dấu hiệu định lượng: Khung 1 áp dụng khi làm hôn nhân dẫn đến ly hôn hoặc đã bị xử phạt VPHC mà tái phạm; Khung 2 áp dụng khi làm vợ, chồng, con tự sát hoặc tiếp tục duy trì dù đã có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt. Khắc phục vướng mắc định tính của Điều 147 BLHS 1999. |
Chương 3: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và một số kiến nghị
Tác giả đánh giá toàn diện bức tranh thực tiễn:
-
Kết quả đạt được: Nguyên tắc trở thành chuẩn mực xã hội; công tác phổ biến giáo dục pháp luật được triển khai rộng rãi (dẫn chứng chương trình ngoại khóa tại Trường TH và THCS Chiềng Mai, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La ngày 09/11/2023). Về mặt kỷ luật Đảng, Điểm a Khoản 3 Điều 51 Quy định số 69-QĐ/TW năm 2022 áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất là Khai trừ đối với đảng viên vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng.
-
Hạn chế, vướng mắc từ thực tế:
Dẫn số liệu thống kê của Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới về các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng hôn nhân:
| Nguyên nhân khủng hoảng hôn nhân |
Tỷ lệ (%) |
| Mâu thuẫn về lối sống |
27,7% |
| Ngoại tình (vi phạm một vợ một chồng) |
25,9% |
| Yếu tố kinh tế |
13,0% |
| Bạo lực gia đình |
6,7% |
| Tình trạng sức khỏe |
2,2% |
| Sống xa nhau nhiều ngày |
1,3% |
| Các nguyên nhân khác |
23,2% |
Khóa luận phân tích 03 dạng vi phạm điển hình qua các vụ việc thực tế:
- Tập tục đa thê, đa phu tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Điển hình tại xã La Ngâu, huyện Tánh Linh (huyện T), tỉnh Bình Thuận của người K'ho. Tác giả dẫn chứng vụ việc bà Hoàng Thị Xêu kết hôn với ông Hoàng Văn Thụ, sau đó tiếp tục lấy thêm người cháu ruột là Hoàng Văn Đậu cùng chung sống, sinh 6 người con chung mà không bị ngăn chặn kịp thời do tập tục lâu đời.
- Vi phạm tại các vùng đô thị và phát triển kinh tế: Điển hình là tình trạng chồng đi xuất khẩu lao động gửi tiền về, người vợ ở nhà ngoại tình sinh con với người khác (dẫn chứng vụ việc anh B.L tại huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên đi xuất khẩu lao động Hàn Quốc từ 2012–2018, đến tháng 8/2023 xét nghiệm ADN phát hiện cả 2 con trai đều không cùng huyết thống).
- Sai phạm của cán bộ tư pháp - hộ tịch trong công tác đăng ký kết hôn: Dẫn chứng sai phạm tại UBND xã T, huyện Điện Biên khi cán bộ tư pháp kiểm tra hồ sơ lỏng lẻo, cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/8/2017 cho anh Phạm Văn Tuân với chị Nguyễn Thị T, trong khi anh Tuân đã tái đăng ký kết hôn với vợ cũ (chị Phạm T.V) vào ngày 07/4/2016, buộc UBND xã phải làm đơn đề nghị TAND huyện Điện Biên hủy kết hôn trái pháp luật vào ngày 29/01/2018.
- Kiến nghị của tác giả: Đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật và các biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành (tăng cường kiểm tra dữ liệu hộ tịch, đẩy mạnh tuyên truyền xóa bỏ hủ tục tại vùng sâu vùng xa, xử lý nghiêm cán bộ buông lỏng quản lý).
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa toàn diện lý luận và lịch sử lập pháp: Khóa luận đã phân tích mạch lạc quá trình chuyển biến của nguyên tắc từ pháp luật phong kiến, thực dân phong kiến đến các đạo luật Hôn nhân và Gia đình thời kỳ hiện đại (1959, 1986, 2000, 2014), làm nổi bật bản chất tiến bộ của chế độ hôn nhân xã hội chủ nghĩa.
- Làm rõ cấu trúc chế tài đa tầng: Phân định rõ ràng ranh giới và mối quan hệ tương hỗ giữa ba tầng chế tài bảo vệ nguyên tắc: Hủy kết hôn/xử lý tài sản theo Luật Hôn nhân và Gia đình; xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 82/2020/NĐ-CP (3–5 triệu đồng); và xử lý hình sự theo Điều 182 BLHS 2015.
- Cung cấp dữ liệu thực chứng xác thực: Đưa ra số liệu định lượng từ Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (ngoại tình chiếm 25,9% nguyên nhân khủng hoảng hôn nhân) và phản ánh trung thực các vụ việc vi phạm cụ thể tại các địa bàn Bình Thuận, Phú Yên, Điện Biên, Sơn La.
- Đề xuất giải pháp thực tiễn: Kiến nghị nâng cao trách nhiệm của cơ quan đăng ký hộ tịch và đưa ra hướng xử lý đối với các bất cập phát sinh giữa phong tục tập quán bản địa và pháp luật thực định.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu do tác giả xác định, khóa luận chưa đi sâu phân tích việc thực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (kết hôn với người nước ngoài, cư trú ở nước ngoài).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo vệ nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số dữ liệu hộ tịch quốc gia, và xử lý xung đột pháp luật đối với các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình; cán bộ Tư pháp - Hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã, huyện; Thẩm phán, Kiểm sát viên và Luật sư tham gia giải quyết các vụ việc hôn nhân gia đình, hành chính, hình sự liên quan.
- Nội dung giá trị nhất: Hệ thống bảng biểu so sánh các chế tài xử lý vi phạm (Hành chính - Hình sự), phân tích quy trình giải quyết tại Tòa án theo Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, và các vụ việc phân tích sai phạm hộ tịch trong thực tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Đảng viên có hành vi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng bị xử lý kỷ luật như thế nào?
Theo Điểm a Khoản 3 Điều 51 Quy định số 69-QĐ/TW ngày 06/7/2022 của Bộ Chính trị, đảng viên vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật Khai trừ khỏi Đảng.
2. Theo số liệu của Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới trong khóa luận, ngoại tình chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong các nguyên nhân gây khủng hoảng hôn nhân?
Số liệu nghiên cứu chỉ ra rằng ngoại tình chiếm 25,9%, đứng thứ hai trong số các nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng hôn nhân, chỉ xếp sau mâu thuẫn về lối sống (chiếm 27,7%).
3. Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định mức phạt tiền và thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng ra sao?
Theo Khoản 1 Điều 59 và Điểm b Khoản 2 Điều 83 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, mức phạt tiền áp dụng từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng, và thẩm quyền xử phạt thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
4. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị chứng minh trong thời hạn bao lâu?
Theo quy định tại Nghị định số 123/2015/NĐ-CP được trích dẫn trong văn bản, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị chứng minh để loại trừ khả năng kết hôn vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng và chỉ có giá trị sử dụng trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày cấp.
5. Điểm mới của Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Điều 147 Bộ luật Hình sự năm 1999 về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng là gì?
Điều 182 BLHS 2015 đã cụ thể hóa dấu hiệu định tội/định khung bằng các tiêu chí định lượng cụ thể: làm cho quan hệ hôn nhân dẫn đến ly hôn; làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; hoặc đã có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt mà vẫn duy trì. Quy định này thay thế cho cụm từ định tính chung chung "gây hậu quả nghiêm trọng" tại Điều 147 BLHS 1999, giúp việc truy cứu trách nhiệm hình sự được kịp thời, tránh khó khăn trong khâu chứng minh.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thu Thúy Diệp đã nghiên cứu toàn diện các khía cạnh lý luận, lịch sử lập pháp và thực trạng quy định pháp luật hiện hành về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ hệ thống chế tài đa tầng từ Luật Hôn nhân và Gia đình, xử phạt hành chính đến xử lý hình sự nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời, thông qua việc đối chiếu với các số liệu thực chứng và các vụ việc sai phạm cụ thể từ cơ sở, đề tài cung cấp luận cứ thực tiễn giá trị nhằm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc trong đời sống xã hội.