Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Quản Thị Ngọc Thảo, chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số 62 38 01 04) tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Ngọc Chí và TS. Nguyễn Tất Viễn.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả khẳng định tư pháp là hiện thân của công lý; để công lý được thực thi, tư pháp phải độc lập. Độc lập xét xử là định đề được thừa nhận chung trong lịch sử tư pháp thế giới và được hiến định tại nhiều quốc gia. Ở Việt Nam, nguyên tắc này được ghi nhận từ Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946, tiếp tục khẳng định qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 và các nghị quyết cải cách tư pháp của Đảng (Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005). Tuy nhiên, thực tiễn xét xử vụ án hình sự cho thấy nhận thức và việc thực hiện nguyên tắc này vẫn còn bất cập, chịu nhiều tác động can thiệp, làm suy giảm niềm tin vào công lý. Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận nguyên tắc ở góc độ chung về quyền lực tư pháp, lý luận nhà nước và pháp luật, luật hiến pháp hoặc coi là nguyên tắc chung cho mọi loại hình tố tụng, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống và chuyên biệt trong luật tố tụng hình sự ở cấp độ luận án tiến sĩ.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong luật tố tụng hình sự Việt Nam; đánh giá việc thực hiện nguyên tắc trong thực tiễn tư pháp hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc theo yêu cầu cải cách tư pháp.

Luận án thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quy định nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong luật tố tụng hình sự Việt Nam; tính tất yếu của nguyên tắc này trong thể chế tư pháp với các mô hình tố tụng hình sự khác nhau; khái niệm, đặc điểm, nội dung, các yếu tố ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập xét xử.
  • Thứ hai, nghiên cứu các quy định pháp luật về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong luật tố tụng hình sự Việt Nam từ trước Cách mạng Tháng Tám đến nay; đánh giá thực tiễn thực hiện nguyên tắc này theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
  • Thứ ba, đề xuất, luận chứng các yêu cầu, giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong luật tố tụng hình sự Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp.

Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Về phạm vi nghiên cứu, tác giả giới hạn ở những yếu tố cơ bản nhất tác động đến việc thực hiện nguyên tắc trong xét xử vụ án hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; phạm vi không gian tập trung ở Việt Nam có đối chiếu các quy định pháp luật quốc tế; phạm vi thời gian đánh giá thực tiễn trong giai đoạn 2006-2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong nước, tác giả điểm lại quá trình nghiên cứu bắt đầu từ Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 và cuộc tranh luận trên Báo Sự Thật các năm 1947-1948 giữa học giả Quang Đạm và các cán bộ tư pháp. Đến giai đoạn đổi mới, nguyên tắc được đề cập trong các sách bình luận khoa học và giáo trình: cuốn Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 của Viện Khoa học pháp lý (1999); Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 do PGS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên (2004); Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (2005); Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội do PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí chủ biên (2001); Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội do PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên (2011).

Ở nhóm sách chuyên khảo, các công trình liên quan gồm: GS. Đào Trí Úc chủ biên (2002), "Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay"; GS. Lê Cảm và PGS. Nguyễn Ngọc Chí đồng chủ biên (2004), "Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền"; PGS. Nguyễn Đăng Dung chủ biên (2004), "Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền"; TS. Tô Văn Hòa (2007), "Tính độc lập của Tòa án - nghiên cứu pháp lý về các khía cạnh lý luận, thực tiễn ở Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam và các kiến nghị đối với Việt Nam"; LS. Lưu Tiến Dũng (2012), "Độc lập xét xử trong Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam"; GS. Đào Trí Úc và PGS. Vũ Công Giao chủ biên (2014), "Cải cách tư pháp vì một nền tư pháp liêm chính"; GS.TS Lê Hồng Hạnh và TS. Đặng Công Cường chủ biên (2015), "Độc lập tư pháp ở Việt Nam và tiêu chí đánh giá". Ở cấp độ luận án và đề tài, có Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hải Ninh (2013) về "Các yếu tố bảo đảm độc lập xét xử ở Việt Nam hiện nay" cùng các bài viết năm 2012; Đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội mã số QG.37 của TSKH. Lê Văn Cảm (2009); Đề tài cấp Nhà nước KX04.06 do TS. Uông Chu Lưu làm chủ nhiệm (2006); Đề tài cấp Nhà nước ĐTĐL.2009G/13 do TS. Lê Hữu Thể làm chủ nhiệm (2011); các bài viết tạp chí của Nguyễn Ngọc Chí (2009), Đinh Thế Hưng (2010), Trần Văn Độ (2013), Nguyễn Tất Viễn (2010).

Ở nước ngoài, tác giả khảo cứu các nghiên cứu tại Liên bang Nga và Liên Xô cũ: Luận án TSKH của B. A-lêch-xây-ep-va (1992); Luận án TSKH của V. E-rơ-shôp (2003); công trình của Giu-ba E. (2008); sách của V. Cô-dư-rep (2013); tài liệu "Luận cương về cải cách tư pháp ở Liên bang Nga" của nhóm 4 giáo sư cố vấn Tổng thống Nga (2011) lên án hiện tượng "chỉ đạo qua điện thoại". Tại Trung Quốc, có Sách trắng "Xây dựng chính trị dân chủ của Trung Quốc" (2005); sách của TS. Đỗ Tiến Sâm chủ biên (2003); tham luận của Vương Hồng Tường (2014). Tại các quốc gia khác và diễn đàn quốc tế, có các bài viết của William Kelly (Canada), Joseph b Diescho (Châu Phi), Brooke (Anh và xứ Wales), Roger K. Warren (Hoa Kỳ); sách của David W. (2012); sách của Fabian Wittresk (2006) và Andre Brodock (2009) tại Đức; kỷ yếu Hội nghị quốc tế thường niên lần thứ 19 về tư pháp tại Washington D.C (2016).

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận độc lập tư pháp ở khía cạnh lý luận nhà nước và pháp luật, luật hiến pháp, luật so sánh hoặc gắn với cơ chế tam quyền phân lập. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên biệt ở cấp độ luận án tiến sĩ về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tố tụng hình sự Việt Nam, gắn với sự chuyển dịch mô hình tố tụng thẩm vấn kết hợp yếu tố tranh tụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng trên nền tảng học thuyết phân chia quyền lực nhà nước của John Locke (1632-1704) và Montesquieu (1689-1755) trong tác phẩm "Tinh thần pháp luật"; tư tưởng của các nhà lập hiến Hoa Kỳ (James Madison, Alexander Hamilton); học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa, tư tưởng V.I. Lênin về Tòa án nhân dân và sự cấm đoán Đảng can thiệp vào xét xử, luận điểm của C. Mác về việc Thẩm phán chỉ phục tùng pháp luật. Luận án viện dẫn các văn kiện quốc tế: Đại Hiến chương Anh (Magna Charta 1215), Bộ luật Nhân quyền Anh (Bill of Rights 1689), Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế (UDHR 1948 - Điều 10), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR 1966 - Điều 14), Những nguyên tắc cơ bản về sự độc lập của hệ thống Tòa án của Liên hợp quốc (1985), Tiêu chuẩn tối thiểu về độc lập tư pháp của Hiệp hội Luật sư thế giới (1982), Tuyên ngôn chung Montreal (1983), Điều lệ chung về Thẩm phán (1999) và Tuyên bố Bắc Kinh về độc lập tư pháp (1995).

Tác giả đưa ra định nghĩa: "Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong luật tố tụng hình sự là một nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN, là tư tưởng chủ đạo, chi phối quá trình Tòa án thực hiện quyền tư pháp. Khi xét xử các vụ án hình sự, Thẩm phán và Hội thẩm toàn quyền phán quyết về vụ án mà không chịu tác động trực tiếp hay gián tiếp của bất kỳ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào, nhằm bảo đảm công lý, bảo đảm tính tối thượng của luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân."

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Phương pháp phân tích: Phân định mối liên hệ giữa cái chung (độc lập tư pháp nói chung), cái riêng (độc lập trong thủ tục tố tụng hình sự, dân sự, hành chính) và cái đặc thù (độc lập xét xử trong các vụ án hình sự).
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát các đặc điểm để hoàn thiện định nghĩa và nội dung nguyên tắc.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Vận dụng khi khảo sát thực tế, nhận định về việc áp dụng nguyên tắc trong thực tiễn.
  • Phương pháp hệ thống: Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của nguyên tắc qua lịch sử lập pháp tố tụng hình sự.
  • Phương pháp so sánh: So sánh quy phạm pháp luật giữa các quốc gia theo hệ thống thông luật và dân luật, giữa các mô hình tố tụng hình sự và giữa các giai đoạn lịch sử của Việt Nam.
  • Phương pháp lịch sử cụ thể: Xem xét các quy định pháp luật gắn với từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
  • Hướng tiếp cận: Tiếp cận dưới góc độ pháp lý hình sự và tố tụng hình sự; tiếp cận hệ thống; tiếp cận liên ngành (luật học so sánh, xã hội học, sử học, chính trị học).

Nguồn tư liệu, dữ liệu bao gồm: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam; số liệu thống kê công tác xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân giai đoạn 2006-2015.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế. Tác giả phân tích các giai đoạn phát triển nhận thức lý luận ở Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám, qua giai đoạn kháng chiến với các bài báo trên Báo Sự Thật, đến các nghiên cứu trong thời kỳ đổi mới và cải cách tư pháp. Về nghiên cứu nước ngoài, chương này điểm cứu các học thuyết, công trình tại Liên bang Nga, Trung Quốc và các nước phương Tây, nhấn mạnh việc bảo đảm độc lập xét xử nhằm hạn chế sự lạm quyền và loại bỏ hiện tượng can thiệp hành chính.

Từ việc tổng thuật tài liệu, tác giả chỉ ra 6 điểm còn để ngỏ của các nghiên cứu đi trước:

  • Số lượng công trình nghiên cứu trực tiếp về nguyên tắc này trong luật tố tụng hình sự Việt Nam còn hạn chế;
  • Đa phần chỉ dừng ở hình thức bình luận khoa học điều luật;
  • Chủ yếu mô tả lại quy định của Hiến pháp về tổ chức và hoạt động của Tòa án;
  • Mới chỉ bình luận cục bộ tại điều luật quy định nguyên tắc mà chưa xem xét sự thể hiện đồng bộ trong các điều luật khác của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Chưa làm rõ mối liên hệ giữa nguyên tắc này với các nguyên tắc khác chi phối quá trình xét xử;
  • Một số quan điểm còn xem nguyên tắc này đơn thuần là sự thể hiện của nguyên tắc pháp chế, dẫn đến việc nghi ngờ tính cần thiết khi ghi nhận nó như một nguyên tắc độc lập.

Chương này kết luận rằng nội dung của nguyên tắc cần được đặt trong 3 mối quan hệ cơ bản: Độc lập với bên ngoài; Độc lập trong nội bộ các Tòa án; Độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm với chính bản thân mình (bản lĩnh, lương tâm, niềm tin nội tâm).

Chương 2: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong luật tố tụng hình sự

Chương 2 phân tích nguồn gốc tư tưởng độc lập xét xử từ thời cổ đại đến hiện đại; khẳng định nguyên tắc là giá trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tác giả phân tích 7 đặc điểm của hoạt động xét xử vụ án hình sự chi phối nguyên tắc:

  1. Phán quyết phải chính xác, công minh; bản án nhân danh Nhà nước nên Nhà nước gánh vác trách nhiệm đối với các sai lầm pháp lý;
  2. Tòa án thực hiện kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của các quyết định do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát ban hành;
  3. Bị giới hạn nghiêm ngặt bởi các quy định thủ tục về chứng cứ, thời hạn và các nguyên tắc dân chủ (suy đoán vô tội, bảo đảm quyền bào chữa, công khai, tranh tụng, xét xử hai cấp);
  4. Đưa ra phán quyết cuối cùng đối với tự do, danh dự, tài sản và sinh mạng con người; kiểm tra hành vi pháp lý của cơ quan công quyền;
  5. Có vai trò giữ vững kỷ cương, ổn định xã hội và phòng ngừa tội phạm;
  6. Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự phức tạp, gồm hai nhóm chủ thể là người tiến hành tố tụng (Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên) và người tham gia tố tụng (bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự...);
  7. Sự chi phối của mô hình tố tụng hình sự: Mô hình tranh tụng phân tách rạch ròi 3 chức năng buộc tội, gỡ tội và xét xử; Bồi thẩm đoàn định đoạt về sự kiện có tội hay không, Thẩm phán định tội danh và áp dụng hình phạt. Mô hình thẩm vấn (xét hỏi) trao trách nhiệm chứng minh cho cơ quan tiến hành tố tụng, Tòa án chủ động xét hỏi. Mô hình kết hợp dung hòa hai phương thức. Tác giả khẳng định dù theo mô hình nào, tính độc lập của Thẩm phán vẫn là đòi hỏi khách quan.

Nội dung nguyên tắc gồm 5 khía cạnh độc lập:

  • Độc lập với cơ chế quản lý hành chính tư pháp trong nội bộ ngành Tòa án (độc lập với Tòa án cấp trên và lãnh đạo Tòa án cùng cấp);
  • Độc lập với các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng khác (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư, Giám định viên);
  • Độc lập giữa Thẩm phán và Hội thẩm trong quá trình đánh giá tình tiết vụ án và áp dụng pháp luật;
  • Độc lập trong việc phân tích và giải thích pháp luật đối với tình tiết cụ thể;
  • Sự bất khả can thiệp từ bên ngoài (cơ quan quyền lực chính trị, cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, phương tiện thông tin đại chúng).

Mối quan hệ giữa "độc lập" và "chỉ tuân theo pháp luật" được xác định là hai mặt biện chứng: độc lập là điều kiện để tuân thủ pháp luật; tuân thủ pháp luật là giới hạn, thước đo ngăn ngừa việc xét xử tùy tiện, lạm quyền. Chương này cũng phân tích mối quan hệ giữa nguyên tắc độc lập xét xử với nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng, suy đoán vô tội và tranh tụng tại phiên tòa; phân tích các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp (pháp luật, tổ chức, con người, điều kiện làm việc) và tham khảo luật tố tụng hình sự một số quốc gia.

Chương 3: Các quy định pháp luật về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng

Chương 3 trình bày lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam từ Sắc lệnh 13/SL năm 1946, các bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992, 2013), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 đến Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 16). Luận án phân tích việc bảo đảm nguyên tắc thông qua các quy định gián tiếp: căn cứ từ chối, thay đổi người tiến hành tố tụng; căn cứ kháng nghị bản án khi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Tác giả đánh giá thực tiễn áp dụng trong giai đoạn 2006-2015, chỉ rõ các lực cản đối với tính độc lập: chế độ thỉnh thị án, báo cáo án xin ý kiến chỉ đạo chuyên môn giữa các cấp Tòa án hoặc giữa Thẩm phán với lãnh đạo Tòa án; sự can thiệp của cấp ủy hoặc chính quyền địa phương trong các vụ án kinh tế, chức vụ; áp lực dư luận và truyền thông. Bên cạnh đó, tác giả đánh giá việc thực hiện nguyên tắc từ phía Hội thẩm: Hội thẩm nhân dân thường thụ động, thiếu kiến thức pháp lý chuyên sâu, phụ thuộc vào nhận định của Thẩm phán chuyên nghiệp.

Để phản ánh thực trạng xét xử, luận án thống kê số liệu và phân tích các chỉ số chất lượng xét xử trong thực tiễn:

Chỉ mục trong luận án Tên bảng / Biểu đồ theo danh mục văn bản Vị trí trang Nội dung phản ánh trong thực tiễn áp dụng
Bảng 3. Thống kê số lượng, tỉ lệ vụ án bị hủy, sửa Trang 87 Tỉ lệ các bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm có sai sót về áp dụng pháp luật hoặc vi phạm tố tụng bị cấp trên hủy, sửa.
Biểu đồ 3. So sánh số lượng vụ án bị hủy, sửa, giám đốc thẩm, tái thẩm trên tổng số vụ án đã xét xử Trang 88 Tương quan quy mô các vụ án có phán quyết bị xem xét lại so với toàn bộ các vụ án hình sự đã thụ lý xét xử.
Biểu đồ 3. Diễn biến tỉ lệ vụ án bị hủy, sửa Trang 88 Xu hướng biến thiên tăng giảm của tỉ lệ án bị hủy, sửa trong giai đoạn đánh giá 2006-2015.
Biểu đồ 3. Tương quan tỉ lệ về lí do hủy, sửa vụ án Trang 89 Cơ cấu các nguyên nhân dẫn đến việc hủy, sửa án (vi phạm tố tụng, đánh giá sai chứng cứ, định tội danh không đúng).

Chương 4: Các giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong xét xử vụ án hình sự

Chương 4 xác định các yêu cầu khách quan bảo đảm nguyên tắc xuất phát từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thể chế hóa Nghị quyết 08-NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, yêu cầu tôn trọng quyền con người và tiến trình hội nhập quốc tế.

Các giải pháp trọng tâm được tác giả luận chứng bao gồm:

  • Hoàn thiện cơ chế pháp lý: Xóa bỏ dứt điểm chế độ thỉnh thị án, báo cáo án xin ý kiến chỉ đạo nghiệp vụ; cụ thể hóa các hành vi can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử và quy định chế tài xử lý nghiêm minh; hoàn thiện thủ tục tố tụng bảo đảm tranh tụng thực chất tại phiên tòa;
  • Đổi mới tổ chức hệ thống Tòa án: Thành lập Tòa án theo thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính lãnh thổ; phân định rành mạch giữa quản lý hành chính tư pháp và hoạt động tiến hành tố tụng xét xử;
  • Nâng cao năng lực và bảo đảm vị thế cho Thẩm phán: Đổi mới quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán theo hướng kéo dài nhiệm kỳ hoặc bổ nhiệm không kỳ hạn để tránh áp lực tái bổ nhiệm; bảo đảm chế độ tiền lương, đãi ngộ và điều kiện làm việc tương xứng;
  • Cải thiện chế định Hội thẩm nhân dân: Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng tố tụng cho Hội thẩm; quy định quy trình cung cấp hồ sơ và thời gian nghiên cứu tài liệu đầy đủ; nâng cao tính độc lập của Hội thẩm, bảo đảm bình đẳng thực chất với Thẩm phán trong quá trình nghị án.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 4 đóng góp mới về mặt khoa học:

  • Thứ nhất, khái quát sự hình thành và phát triển của tư tưởng độc lập xét xử như một giá trị chung của nhân loại, đã được ghi nhận trong các đạo luật cơ bản của nhiều quốc gia, qua đó xác định tính chất đặc trưng của nguyên tắc độc lập xét xử trong luật tố tụng hình sự;
  • Thứ hai, đưa ra định nghĩa khoa học về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong luật tố tụng hình sự Việt Nam; phân tích cụ thể nội dung nguyên tắc trong xét xử vụ án hình sự;
  • Thứ ba, xác định được các yếu tố phổ quát và yếu tố đặc thù ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong luật tố tụng hình sự Việt Nam;
  • Thứ tư, trên cơ sở đánh giá thực trạng áp dụng nguyên tắc theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 giai đoạn 2006-2015, đưa ra hệ thống các giải pháp đồng bộ bảo đảm thực hiện nguyên tắc trong tình hình mới.

Về kiến nghị, luận án đề xuất sửa đổi pháp luật tố tụng hình sự, đổi mới mô hình tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử, bãi bỏ hoàn toàn các cơ chế chỉ đạo nghiệp vụ hành chính nội bộ và xây dựng chế tài xử lý nghiêm các hành vi can thiệp vào quá trình xét xử.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định phạm vi nghiên cứu thực tiễn chỉ tập trung tại Việt Nam, đối chiếu với các chuẩn mực quốc tế ở góc độ so sánh nhằm làm rõ pháp luật trong nước. Dữ liệu đánh giá thực tiễn giới hạn theo các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và số liệu giai đoạn 2006-2015, chưa thể bao quát thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (do thời điểm hoàn thành luận án vào năm 2017).

Hướng nghiên cứu tiếp được đặt ra bao gồm: Tiếp tục nghiên cứu việc thực thi nguyên tắc độc lập xét xử trong bối cảnh thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; nghiên cứu sâu về cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp, trách nhiệm giải trình của Thẩm phán và ảnh hưởng của công nghệ thông tin, truyền thông đối với quá trình hình thành niềm tin nội tâm khi xét xử.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên tại các cơ sở đào tạo luật thuộc các bộ môn Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Lý luận về nhà nước và pháp luật, Luật hiến pháp. Phần tổng quan tài liệu (Chương 1) và cơ sở lý luận (Chương 2) cung cấp hệ thống luận cứ về lịch sử tư tưởng độc lập xét xử và mối tương quan giữa các mô hình tố tụng.

Đối với thực tiễn, luận án cung cấp cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm cho các cơ quan lập pháp (Quốc hội, Ban soạn thảo luật) trong việc tiếp tục hoàn thiện thể chế tư pháp. Đồng thời, công trình giúp các cán bộ tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên) và cán bộ trong hệ thống chính trị nhận thức đúng đắn về phạm vi, ranh giới của nguyên tắc, ngăn chặn các hiện tượng can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án định nghĩa nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong luật tố tụng hình sự như thế nào? Luận án định nghĩa đây là nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là tư tưởng chủ đạo chi phối quá trình Tòa án thực hiện quyền tư pháp. Khi xét xử các vụ án hình sự, Thẩm phán và Hội thẩm toàn quyền phán quyết về vụ án mà không chịu tác động trực tiếp hay gián tiếp của bất kỳ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào, nhằm bảo đảm công lý, bảo đảm tính tối thượng của luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

  2. Luận án phân chia nội dung tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm thành những khía cạnh nào? Tác giả xác định nội dung tính độc lập bao gồm 5 khía cạnh cụ thể: Độc lập với cơ chế quản lý hành chính tư pháp trong nội bộ ngành Tòa án (Tòa án cấp trên và lãnh đạo Tòa án cùng cấp); Độc lập với các chủ thể tố tụng khác (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư, Giám định viên); Độc lập giữa Thẩm phán và Hội thẩm với nhau; Độc lập trong việc phân tích và giải thích pháp luật; và Sự bất khả can thiệp từ các cá nhân, tổ chức, quyền lực chính trị hoặc phương tiện truyền thông bên ngoài.

  3. Theo luận án, hoạt động xét xử vụ án hình sự có những đặc điểm nào chi phối nguyên tắc độc lập xét xử? Có 7 đặc điểm chi phối: Tính chính xác và công minh nhân danh Nhà nước; Tòa án kiểm tra tính hợp pháp các quyết định trước đó của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát; Giới hạn bởi quy định khắt khe của thủ tục tố tụng và các nguyên tắc dân chủ; Phán quyết mang tính chung thẩm liên quan đến nhân thân, tài sản, tính mạng con người; Vai trò giữ vững ổn định trật tự xã hội; Quan hệ pháp luật tố tụng đa dạng chủ thể; và Sự chi phối của mô hình tố tụng hình sự.

  4. Mô hình tố tụng hình sự có quyết định việc tồn tại hay không tính độc lập của Thẩm phán không? Theo luận án, mô hình tố tụng hình sự (tranh tụng, thẩm vấn hay kết hợp) chỉ tạo ra các phương thức và vị trí thực hiện quyền năng khác nhau của người xét xử, nhưng không quyết định đến việc tồn tại hay không của tính độc lập. Dù ở bất kỳ mô hình nào, tính độc lập của Thẩm phán vẫn là một yêu cầu có tính khách quan để bảo đảm công lý.

  5. Nguồn tư liệu thực tiễn và chỉ tiêu thống kê nào được sử dụng để đánh giá việc thực hiện nguyên tắc trong giai đoạn 2006-2015? Luận án sử dụng các số liệu thực tiễn xét xử giai đoạn 2006-2015 được tổng hợp tại Bảng 3 (Thống kê số lượng, tỉ lệ vụ án bị hủy, sửa), Biểu đồ 3 (So sánh số lượng vụ án bị hủy, sửa, giám đốc thẩm, tái thẩm trên tổng số vụ án đã xét xử), Biểu đồ 3 (Diễn biến tỉ lệ vụ án bị hủy, sửa) và Biểu đồ 3 (Tương quan tỉ lệ về lý do hủy, sửa vụ án).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Quản Thị Ngọc Thảo đã nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Công trình làm rõ nguồn gốc tư tưởng, xác lập định nghĩa khoa học, phân tích 7 đặc điểm của hoạt động xét xử vụ án hình sự và 5 nội dung cấu thành tính độc lập trong mối quan hệ biện chứng với việc tuân thủ pháp luật. Dựa trên việc phân tích số liệu thực tiễn giai đoạn 2006-2015 theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, luận án đã chỉ ra các trở ngại thể chế và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, đổi mới tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.