Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC CÔNG BẰNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Công bằng là một khái niệm đa chiều, tiếp cận dưới nhiều góc độ sẽ cho ra những nội hàm khác nhau. Để có thể phân tích, đánh giá sự thể hiện của nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự, nhất định phải làm rõ khái niệm này ở bình diện pháp lý và chỉ ra những biểu hiện, ý nghĩa của nó trong pháp luật hình sự. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC CÔNG BẰNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm công bằng dưới các góc độ triết học, xã hội, đạo đức, kinh tế và pháp luật Công bằng xã hội là lý tưởng, khát vọng và nỗ lực chung của nhân loại tiến bộ.
Ở nước ta, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (năm 2011) cũng thể hiện lý tưởng này qua việc nhấn mạnh về mục tiêu của cách mạng Việt Nam hiện nay là: “xây dựng Việt Nam trở thành một nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [6, tr. Công bằng là một phạm trù, khái niệm đa chiều, tiếp cận và đứng trên lập trường khác nhau về văn hóa hoặc xuất phát từ những phương diện, ở không gian và thời gian khác nhau sẽ cho ra những quan niệm, đánh giá khác nhau về vấn đề này. Dưới góc độ triết học, trong quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin: Bản chất của công bằng là sự phù hợp giữa một loạt khía cạnh thể hiện các phương diện khác nhau giữa cái mà cá nhân (hay nhóm xã hội) làm và cái mà họ được hưởng từ xã hội. Cái mà cá nhân làm cho xã hội có thể là điều tốt lành (lao động, cống hiến, nghĩa vụ, công lao…), hoặc cũng có thể là điều xấu, có hại cho xã 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Còn cái mà cá nhân được hưởng từ xã hội có thể là địa vị xã hội, quyền lợi, tiền công, phần thưởng, sự đánh giá, ghi công của xã hội… và cũng có thể là sự trừng phạt bằng những hình thức từ thấp đến cao [10, tr. Theo đó, công bằng - một cách đơn giản nhất - được hiểu là sự phù hợp giữa cái mà cá nhân làm cho xã hội với cái mà cá nhân nhận được từ xã hội. Nếu làm những điều có ích cho xã hội thì được hưởng quyền lợi, ngược lại làm những điều có hại cho xã hội thì bị trừng phạt ở những mức độ nặng nhẹ tùy theo tính có hại của việc làm thấp hay cao. Dưới góc độ xã hội, công bằng chủ yếu được nhìn nhận là sự ngang bằng nhau giữa người và người về phương diện phân phối sản phẩm xã hội theo nguyên tắc cống hiến lao động ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau.
Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến khi nói về nguyên tắc phân phối dưới chủ nghĩa xã hội: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng, hợp lý: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ, chăm nom” [14, tr. Theo đó, công bằng xã hội đi đôi với hợp lý. Công bằng thể hiện qua việc mức độ hưởng thụ tương xứng với cống hiến; còn hợp lý ở chỗ có sự hỗ trợ để những đối tượng không có khả năng cống hiến (chứ không phải có khả năng mà không cống hiến) vẫn được hưởng thụ những nhu cầu thiết yếu.
Dưới góc độ đạo đức, theo Từ điển bách khoa Blackwell về đạo đức kinh doanh: Khái niệm công bằng (fairness) liên quan chặt chẽ với một số khái niệm đạo đức khác như bình đẳng (equality), không thiên vị (impartiality) và công lý (justice). Giống như các khái niệm kia, nó tập trung vào cách mọi người được đối xử bởi những người khác với yêu cầu đặc biệt rằng họ phải được đối xử như nhau trong trường hợp giữa họ không có sự khác biệt đáng kể [49, p. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, công bằng chính là yêu cầu về cách đối xử với con người và ở góc độ này công bằng đòi hỏi rằng trong những điều kiện tương tự, mọi người phải được đối xử như nhau. Dưới góc độ kinh tế, “người ta phân biệt hai khái niệm khác nhau về công bằng xã hội đó là: công bằng xã hội theo chiều ngang (horizontal justice) nghĩa là đối xử như nhau đối với những người có đóng góp như nhau và công bằng xã hội theo chiều dọc (vertical justice) theo nghĩa là đối xử khác nhau với những người có những khác biệt bẩm sinh, trình độ, năng lực hoặc có các điều kiện sống khác nhau” [32].
Cũng giống như quan niệm ở phương diện đạo đức, quan niệm này nhìn nhận công bằng có nghĩa là đối xử như nhau giữa những người có đóng góp như nhau. Tuy nhiên, theo quan niệm thể hiện ở đây, công bằng không mang nghĩa cào bằng mà còn có khía cạnh phân hóa, tức là đối xử tương xứng với khả năng, mức độ đóng góp. Dưới góc độ pháp luật, nhà triết học pháp luật người Mỹ John Rawls cho rằng “công bằng là ý nghĩa cơ bản của khái niệm công lý” [48, p. Hoặc cụ thể hơn, Ambrose Bierce cho rằng công bằng là sự phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân (nhóm xã hội) qua tính tương ứng giữa cái mà nhà nước trả lại cho công dân so với cái mà anh ta (họ) làm cho nhà nước [47, p.
Theo cách hiểu này, sự công bằng trong pháp luật thể hiện ở hai khía cạnh: sự ghi nhận, quyền lợi Nhà nước trao cho chủ thể thực hiện tốt các nghĩa vụ đối với Nhà nước; sự trừng phạt, lên án của Nhà nước dành cho chủ thể vi phạm nghĩa vụ đối với Nhà nước. Xử sự của Nhà nước đối với các chủ thể thông qua quy định pháp luật dù theo hướng tích cực (ghi nhận) hay tiêu cực (trừng phạt) cũng phải đảm bảo tương xứng với cách ứng xử tốt hay xấu mà chủ thể đã thể hiện mới công bằng. Như vậy, dưới những khía cạnh nghiên cứu khác nhau, công bằng có ý nghĩa và tiêu chí đánh giá rất khác nhau. Tuy nhiên, có hai điểm chung phải thừa nhận ở khái niệm công bằng trong mọi góc độ đánh giá là: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một là, con người ở những điều kiện giống nhau phải được hưởng sự đối xử như nhau từ phía Nhà nước, xã hội; Hai là, việc đối xử của Nhà nước, xã hội đối với con người cụ thể phải tương xứng với xử sự của họ.
Trên cơ sở tiếp cận đó, theo chúng tôi, khái niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau: Công bằng là yêu cầu về cách đối xử mà con người trong xã hội được hưởng, trong đó đòi hỏi việc được đối xử bình đẳng giữa mọi người trong điều kiện tương tự và đối xử với mỗi người một cách tương xứng với xử sự của bản thân họ. Khái niệm nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam Nguyên tắc theo nghĩa Từ điển là “Điều định ra, nhất định phải tuân theo trong một loạt việc làm” [38, tr. Nói một cách khác, nguyên tắc là quy tắc cơ bản, tư tưởng chỉ đạo của một quá trình hay hoạt động nào đó. Ý nghĩa này đều được các nhà khoa học pháp lý sử dụng khi xây dựng khái niệm về nguyên tắc của luật hình sự.
Đào Trí Úc định nghĩa: “Nguyên tắc của luật hình sự là những tư tưởng chỉ đạo và các định hướng đường lối cho toàn bộ quá trình quy định tội phạm và hình phạt, áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn” [33, tr. Lê Văn Cảm lại quan niệm: “Nguyên tắc cơ bản của luật hình sự là tư tuởng chủ đạo và là định hướng cơ bản được thể hiện trong pháp luật hình sự, cũng như trong việc giải thích và trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự thông qua một hay nhiều quy phạm hoặc chế định của nó” [4, tr. Chia sẻ với quan điểm này, PGS. Kiều Đình Thụ cho rằng: “Các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự là các tư tưởng chủ đạo, nền tảng của việc xây dựng và thực hiện luật hình sự, phản ánh tính quy luật của cuộc đấu tranh phòng chống và phòng ngừa tội phạm” [13, tr.
Như vậy, trong khoa học luật hình sự cơ bản đều thống nhất quan điểm: 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên tắc của luật hình sự là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng xuyên suốt quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự. Theo đó, có thể suy ra bằng phương pháp logic rằng nguyên tắc công bằng trong luật hình sự là sự thể hiện xuyên suốt của tư tưởng công bằng trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự. Nội hàm của khái niệm công bằng dưới góc độ chung như đã nêu ở trên, là yêu cầu về cách đối xử mà con người trong xã hội được hưởng, trong đó đòi hỏi việc được đối xử bình đẳng giữa mọi người trong điều kiện tương tự và đối xử với mỗi người một cách tương xứng với xử sự của bản thân họ. Do đó, đặt trong mối tương quan với pháp luật hình sự - lĩnh vực điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội phát sinh khi tội phạm được thực hiện [3, tr.6], nguyên tắc công bằng thể hiện thông qua “đối xử” của Nhà nước đối với người phạm tội như thế nào.
Rõ ràng, việc đối xử của Nhà nước đối với người phạm tội chỉ công bằng khi thể hiện đầy đủ các khía cạnh: Một là, đối xử công bằng giữa những người phạm tội và hai là, đối xử với mỗi người phạm tội tương xứng với hành vi phạm tội của họ. Những khía cạnh này cũng được các nhà khoa học luật hình sự Việt Nam thừa nhận khi đề cập đến nội dung của nguyên tắc công bằng trong luật hình sự. Trong nghiên cứu chuyên sâu về nguyên tắc công bằng của luật hình sự, GS. Võ Khánh Vinh cho rằng: trong pháp luật hình sự, công bằng được khai thác trên hai khía cạnh công bằng ngang nhau và công bằng phân phối [42, tr.
Công bằng ngang nhau được hiểu là việc xây dựng những quy định về cơ sở trách nhiệm hình sự, tội phạm và hình phạt bảo đảm sự bình đẳng của mọi người trước pháp luật, có nghĩa là Nhà nước sẽ quy định đạo luật hình sự thống nhất và những người có hành vi xâm phạm các khách thể mà luật hình sự bảo vệ đều phải chịu sự điều chỉnh bởi các quy phạm của đạo luật này mà không có bất cứ sự thiên vị nào. Đối với công bằng phân 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.