Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI PHẠM THAM NHŨNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định các tội phạm tham nhũng trong LHS Việt Nam Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực mang tính lịch sử, nó xuất hiện và tồn tại trong xã hội phân chia giai cấp và hình thành Nhà nước, hậu quả mà nó gây ra hết sức nguy hại về mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, nó cản trở sự phát triển đi lên của xã hội, thậm chí có thể dẫn đến sự sụp đổ của cả một thể chế và nó diễn ra ở tất cả các quốc gia trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, điều kiện và trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Khái niệm, đặc điểm của các tội phạm tham nhũng trong LHS Việt Nam Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tội tham nhũng cũng ngày càng đa dạng nên yêu cầu về tội phạm hóa một số hành vi vi phạm pháp luật của người có chức vụ, quyền hạn, nhu cầu pháp điển hoá PLHS, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… là nhiệm vụ bức thiết của Nhà nước. Ngày 21/12/1999, Quốc hội đã thông qua BLHS, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2000 thay thế cho BLHS năm 1985.
Các tội phạm về tham nhũng được quy định trong Mục A Chương XXI, gồm 7 tội danh: Tội tham ô tài sản (Điều 278); Tội nhận hối lộ (Điều 279); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 283); Tội giả mạo trong công tác (Điều 284) [42]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đến ngày 19/6/2009, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Đối với các tội phạm về tham nhũng trong Bộ luật này, về cơ bản không có sự thay đổi lớn, ngoài nội dung sửa đổi liên quan đến vấn đề định lượng, đó là: không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi tham ô tài sản (Điều 278) và hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới hai triệu đồng, trừ trường hợp có yếu tố định tội khác (Điều 280). Tuy nhiên, trong các văn bản pháp LHS của Việt Nam từ trước đến nay chưa có điều luật nào quy định khái niệm thế nào là tội phạm tham nhũng mà mới chỉ quy định khái niệm về tội phạm về chức vụ nói chung tại Điều 277 BLHS năm 1999: “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ” [42].
Thuật ngữ “tham nhũng” được các tổ chức, các quốc gia trên thế giới sử dụng và định nghĩa. Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế tham nhũng là hành vi "của người lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá nhân". Theo Ngân hàng Thế Giới, tham nhũng là sự "lạm dụng quyền lực công cộng nhằm lợi ích cá nhân". Ban nghiên cứu thuộc Hội đồng Châu Âu đã đưa ra khái niệm tham nhũng: Tham nhũng bao gồm những hành vi hối lộ và bất kỳ một hành vi nào khác của những người được giao thực hiện một trách nhiệm nào đó trong khu vực Nhà nước hoặc tư nhân, nhưng đã vi phạm trách nhiệm được giao để thu bất kỳ một thứ lợi ích bất hợp pháp nào cho cá nhân hoặc cho người khác [78, tr.
Ngân hàng Thế giới định nghĩa, tham nhũng là “lạm dụng công quyền để tư lợi”. Điều này cho rằng căn nguyên của tham nhũng xuất phát từ công quyền và lạm dụng công quyền, tham nhũng gắn liền với Nhà nước và các 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạt động của Nhà nước, việc Nhà nước can thiệp vào thị trường và từ sự tồn tại của khu vực công. Khái niệm này loại trừ khả năng tham nhũng xảy ra trong khu vực tư nhân, chỉ tập trung duy nhất vào tình trạng tham nhũng trong khu vực công. Có thể nói Công ước của Liên Hợp Quốc (LHQ) về chống tham nhũng là kết quả của nhiều nỗ lực đàm phán nhưng cũng không đưa ra định nghĩa về tham nhũng, mà chỉ có một số điều khoản mô tả các loại hành vi tham nhũng, đồng thời Công ước đặt ra nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải hình sự hoá các hành vi: hối lộ công chức quốc gia; hối lộ công chức nước ngoài hoặc của tổ chức quốc tế công; tham ô, biển thủ hoặc các dạng chiếm đoạt tài sản khác bởi công chức; Lạm dụng ảnh hưởng để trục lợi; Lạm dụng chức năng; Hối lộ trong khu vực tư; Biển thủ tài sản trong khu vực tư; Che dấu tài sản; Cản trở hoạt động tư pháp; Hành vi làm giàu bất hợp pháp và hành vi tẩy rửa tiền và tài sản do phạm tội mà có Ở Việt Nam, thuật ngữ “tham nhũng” lần đầu tiên được sử dụng trong văn bản pháp LHS là trong Luật số 57/L-CTN sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS ngày 10 tháng 5 năm 1997.
Theo Luật này, có 11 tội danh trong BLHS được xác định là “tội phạm tham nhũng”. Trong BLHS năm 1999, các tội phạm về tham nhũng được quy định thành mục riêng - Mục A, Chương XXI của BLHS với 7 tội danh khác nhau [42]. Trong quá trình hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật về đấu tranh chống tham nhũng, các cơ quan có thẩm quyền như Toà án nhân dân tối cao, VKS nhân dân tối cao… cũng có nhiều văn bản hướng dẫn việc xử lý các hành vi tham nhũng, các tội phạm về tham nhũng. Trong quá trình nghiên cứu, có nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm về “tham nhũng”: Theo GS.
Nguyễn Xuân Yêm, PGS. Nguyễn Hòa Bình, TS. Bùi Minh Thanh trong cuốn Phòng chống tham nhũng ở Việt 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nam và Thế giới” cho rằng: “Tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực có tính lịch sử xuất hiện và tồn tại trong xã hội phân chia giai cấp và hình thành Nhà nước, được thể hiện bằng hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi cho cá nhân hoặc người khác dưới bất kỳ hình thức nào, gây thiệt hại tài sản của Nhà nước, của tập thể, của công dân hoặc đe dọa gây thiệt hại cho hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của công dân” [85, tr 26]. Phan Xuân Sơn và ThS.
Hoàng Thế Lực trong cuốn “Nhận diện tham nhũng và các giải pháp phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay”, cho rằng: “Tham nhũng là một hiện tượng xã hội, trong đó các tổ chức, tập đoàn, cá nhân… lợi dụng những ưu thế về chức vụ, cương vị, uy tín, nghề nghiệp, hoàn cảnh của mình hoặc người khác, lợi dụng những sơ hở của pháp luật để trục lợi bất chính” [91, tr. Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, khái niệm “tham nhũng” được hiểu: “là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” [47, tr. Có thể thấy khái niệm tham nhũng đã được Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 khái quát cao, không còn tình trạng việc mô tả, liệt kê những hành vi tham nhũng cùng với những đặc điểm cụ thể của nó như trong Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998 nữa vì tham nhũng hiện nay có biểu hiện rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau, xuất hiện trong các lĩnh vực khác nhau. Từ những quan điểm của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như của Việt Nam về tham nhũng, có thể thấy nổi lên hai nhóm quan điểm như sau: Thứ nhất, coi tham nhũng là lạm dụng công quyền với mục đích tư lợi cho bản thân mình hoặc cho người khác, chỉ xảy ra ở khu vực công, người phạm tội với mục đích chiếm đoạt tài sản công và biến tài sản công thành tài sản của riêng mình.
Tham nhũng có lịch sử xuất hiện và tồn tại phát triển trong xã hội phân chia giai cấp và hình thành Nhà nước. Tham nhũng gây 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiệt hại cho hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước; Thứ hai, coi tham nhũng cũng là lạm dụng chức vụ để chiếm đoạt tài sản nhưng xảy ra ở cả khu vực công và khu vực tư. Căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam về hành vi tham nhũng, trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm khoa học của thế giới và Việt Nam về khái niệm tham nhũng, tác giả cho rằng tham nhũng là hiện tượng xã hội trong đó chủ thể lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi trái pháp luật nhằm trục lợi cá nhân. Có nhiều hành vi được xem là hành vi tham nhũng, tuy nhiên không phải hành vi tham nhũng nào cũng bị tội phạm hóa thành các tội phạm về tham nhũng.
Việc tội phạm hóa các hành vi tham nhũng có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc phòng, chống tham nhũng. Để phòng và chống tham nhũng đòi hỏi phải có nhiều biện pháp mang tính đồng bộ, song pháp luật vẫn giữ vai trò chủ đạo, tạo khuôn khổ pháp lý nhằm phòng ngừa và phát hiện các hành vi tham nhũng và có các chế tài thích hợp đối với người có hành vi tham nhũng. Vì thế để phòng ngừa và phát hiện các hành vi tham nhũng phải tiếp tục hoàn thiện các văn bản, các qui định trực tiếp liên quan đến tội phạm tham nhũng. Thông qua các dấu hiệu đặc trưng của hành vi tham nhũng để làm căn cứ xác định một cách cụ thể, rõ ràng về loại tội phạm này.
Qua phân tích các quan điểm về tham nhũng và tội phạm về tham nhũng ở Việt Nam cũng như trên thế giới [24]; [65]; [86], có thể đưa ra khái niệm tội phạm tham nhũng như sau: Tội phạm tham nhũng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm uy tín và hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân do người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình thực hiện trong khi thi hành công vụ nhằm mục đích vụ lợi.