phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo: Chƣơng 1: Một số vấn đề chung về nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đƣợc bảo đảm. Chƣơng 2: Sự thể hiện của nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đƣợc đảm bảo trong BLTTHS năm 2015. Chƣơng 3: Thực tiễn áp dụng, một số kiến nghị, giải pháp tiếp tục hoàn thiện và bảo đảm tuân thủ các quy định của BLTTHS năm 2015 về nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đƣợc bảo đảm. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC CHẾ ĐỘ XÉT XỬ SƠ THẨM, PHÚC THẨM ĐƢỢC BẢO ĐẢM 1.
Khái niệm, nội dung của nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đƣợc bảo đảm 1. Khái niệm Theo từ điển Tiếng Việt, “Nguyên tắc” là “Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”. Theo khái niệm trên, nguyên tắc đƣợc hiểu là tƣ tƣởng chỉ đạo, quy tắc cơ bản của một hoạt động nào đó. Mục đích cuối cùng của quá trình giải quyết vụ án hình sự là kịp thời, nhanh chóng, xử lý đúng ngƣời, đúng tội, đúng quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Để đạt đƣợc mục đích đó, khi giải quyết vụ án hình sự cần phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản của luật TTHS. Khi nghiên cứu về nguyên tắc cơ bản của TTHS, có nhiều quan điểm khác nhau nhƣ: Khái niệm, bản chất, cách phân loại cũng nhƣ xác định phạm vi ảnh hƣởng của các nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. TS Trần Đình Nhã “Khái niệm các nguyên tắc của luật TTHS” là sự nhầm lẫn “bắt nguồn từ việc coi TTHS và pháp luật tố TTHS là một”. Theo đó, không có nguyên tắc của luật TTHS mà chỉ có nguyên tắc của TTHS và “Việc hình thành các nguyên tắc của TTHS không phải là ngẫu nhiên, càng không phải là ý chí chủ quan của các nhà làm luật”, mà “nguyên tắc của TTHS, xét cho cùng là sản phẩm phát triển của xã hội và đồng thời là thành tựu của hoạt động tư pháp trong lĩnh vực tố tụng hình sự” [62, tr.
Phạm Hồng Hải đƣa ra định nghĩa “Nguyên tắc TTHS Việt Nam là những quan điểm, tư tưởng, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quá trình giải quyết vụ án hình sự đó được thể chế hoá trong BLTTHS mà các cơ quan tiến hành tố tụng, người tến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân phải tuân theo”. Tác giả không đồng ý với quan niệm coi các nguyên tắc này là nguyên tắc của BLTTHS, nhƣng đồng thời cũng không tán đồng quan niệm chỉ coi đó là nguyên tắc của TTHS “theo chúng tôi cả hai cách lập luận đó đều chưa đủ tính thuyết phục”. Và theo quan điểm của tác giả thì “Khi nguyên tắc quy định trong BLTTHS thì phải coi chúng là những nguyên tắc của TTHS, ngoài ra nếu các tư tưởng, quan điểm nào đó là các quan điểm, tư tưởng chủ đạo của luật TTHS thì chúng cũng đồng thời là các nguyên tắc của luật TTHS” [24, tr.] Nhƣ vậy, theo PGS. Phạm Hồng Hải có những nguyên tắc chỉ là của TTHS và có nguyên tắc vừa là của TTHS lại vừa là của luật TTHS đƣợc quy định trong BLTTHS.
Theo TS Nguyễn Văn Tuân tồn tại hai loại nguyên tắc: Nguyên tắc của TTHS và nguyên tắc của luật TTHS đồng thời “khẳng định nguyên tắc của luật TTHS và nguyên tắc của TTHS có điểm giống nhau và khác nhau, giữa chúng có sự giao thoa nhất định. Một số nguyên tắc của luật TTHS cũng có thể là nguyên tắc của TTHS và ngược lại. Điều đó phụ thuộc vào sự thể hiện của nguyên tắc đó, cũng như cách tiếp cận chúng” [51, tr. Từ đó, TS Nguyễn Văn Tuân đƣa ra khái niệm nguyên tắc cơ bản của TTHS nhƣ sau: “Có thể hiểu nguyên tắc của TTHS là những quy định pháp luật cơ bản, chung nhất, mang tính chất chỉ đạo và được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật TTHS, thể hiện bản chất tố tụng, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng hình sự”[51, tr.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TS Lê Hữu Thể thừa nhận có những quan niệm khác nhau, là nguyên tắc cơ bản của TTHS hay nguyên tắc cơ bản của luật TTHS, nhƣng “Các ý kiến đều thống nhất chung về bản chất, lĩnh vực thể hiện, đó là: Nguyên tắc cơ bản được hiểu là những tư tưởng chỉ đạo đối với toàn bộ hoạt động TTHS hoặc đối với một số hoạt động tố tụng nhất định như hoạt động điều tra, truy tố, xét xử …; được thể hiện trong cả việc xây dựng, giải thích, áp dụng pháp luật tố tụng hình sự”[50, tr. Tuy nhiên, tác giả lại khẳng định “Nguyên tắc cơ bản của TTHS rộng hơn khái niệm nguyên tắc cơ bản của luật TTHS”[50, tr.TSKH Lê Văn Cảm cho rằng những nguyên tắc đƣợc quy định trong BLTTHS là nguyên tắc của Luật TTHS và đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Nguyên tắc của luật TTHS là tư tưởng chủ đạo và định hướng cơ bản được thể hiện trong pháp luật TTHS, cũng như trong việc giải thích và trong thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS thông qua một hay nhiều quy phạm (chế định) của nó - của nguyên tắc tương ứng mà ta nghiên cứu” [5]. Giáo trình luật TTHS Việt Nam của trƣờng Đại học Quốc gia Hà Nội đƣa ra định nghĩa về nguyên tắc cơ bản của luật TTHS nhƣ sau: “Nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của hoạt động TTHS trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS” [6, tr. Nhƣ vậy, bản thân hoạt động TTHS đã đòi hỏi luôn luôn tồn tại những nguyên tắc của nó, tuy nhiên chỉ khi những nguyên tắc của TTHS đƣợc nhà làm luật quy định ở những văn bản pháp luật nó mới trở thành nguyên tắc của luật TTHS.
Giáo trình luật TTHS Việt Nam của trƣờng Đại học luật Hà Nội đƣa ra khái niệm “Các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là những định hướng chi phối tất cả hoặc một số hoạt động TTHS, được các văn bản pháp luật ghi nhận” [60, tr. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ vậy, cho tới nay có nhiều quan niệm của những nhà nghiên cứu khác nhau về nguyên tắc cơ bản của LTTHS. Tuy nhiên tác giả đồng ý với quan điểm của PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí cho rằng có sự khác nhau giữa hai khái niệm “tố tụng hình sự” và “luật tố tụng hình sự”. Khái niệm “tố tụng hình sự” rộng hơn nó bao gồm toàn bộ hoạt động của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật.
Đây là hoạt động mang tính khác quan, tồn tại trong xã hội có giai cấp, là đòi hỏi tất yếu của Nhà nƣớc để trừng trị ngƣời phạm tội. Còn “luật tố tụng hình sự” là khái niệm hẹp hơn, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Luật tố tụng hình sự là một phạm trù chủ quan, là nhận thức hiện tƣợng khách quan của nhà làm luật. Vì vậy, những phƣơng châm, định hƣớng quan trọng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của quá trình TTHS, quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS đƣợc gọi là các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS [12].
Những nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong TTHS, thể hiện chính sách hình sự, quan điểm giải quyết vụ án hình sự của Đảng và Nhà nƣớc ta đảm bảo mọi tội phạm đều đƣợc phát hiện, xử lý kịp thời, nhanh chóng, công minh theo đúng quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và làm oan ngƣời vô tội. Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đƣa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nƣớc đƣa ra một phán quyết tƣơng ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc. TA là cơ quan duy nhất của một nƣớc thực hiện chức năng xét xử. Mọi bản án do TA tuyên đều phải thông qua hoạt động xét xử.
Không một ai có thể bị buộc tội mà không qua xét xử và kết quả xét xử phải đƣợc thể hiện bằng bản án. Theo quy định của luật 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TTHS Việt Nam hiện hành, có hai cấp độ xét xử là: xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên đƣa vụ án ra xét xử tại một TA có thẩm quyền. Cấp sơ thẩm tiến hành trình tự, thủ tục giải quyết vụ án lần thứ nhất.
Tất cả các vụ án hình sự đều phải tiến hành xét xử sơ thẩm. Đây là cấp xét có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án. Bản án, quyết định sơ thẩm chƣa có hiệu lực pháp luật ngay mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử lại một lần nữa, đó là xét xử phúc thẩm. Nếu xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện, xét xử chính xác, nghiêm túc ngay từ lúc sơ thẩm thì bản án sẽ ít bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Nếu bản án bị kháng cáo, kháng nghị thì cũng không bị hủy, sửa. Nhƣ vậy, vụ án không bị kéo dài, mất thời gian. Xét xử phúc thẩm là việc TA cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hình sự mà bản án, quyết định sơ thẩm chƣa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. Bản án, quyết định của TA cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay.