Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LẬT THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 1. Khái niệm bình đẳng và quyền bình đẳng trước pháp luật Tìm hiểu chung về lịch sử Nhà nước và pháp luật có thể thấy được những quan điểm đầu tiên về bình đẳng đã được hình thành ngay từ trong lòng của xã hội cộng sản nguyên thủy. Mà ở đó, bình đẳng được quan niệm như sự cần thiết phải chấp hành các tập quán và nghi lễ đang hiện hữu trong xã hội.
Cùng với sự phân hóa giàu nghèo, hình thành chế độ tư hữu và sự xuất hiện của giai cấp các quan niệm về bình đẳng theo đó phong phú và đa dạng hơn. Nghiên cứu về bình đẳng được triết học, xã hội học, đạo đức học, luật học từ đó được hình thành và đào sâu nghiên cứu có hệ thống hơn mà nổi lên là hai trường phái nghiên cứu về phạm trù bình đẳng của triết học duy vật và triết học duy tâm. Những tư tưởng tiến bộ về Luật hình sự cũng được thể hiện trong các tác phẩm của các nhà triết học duy vật thế kỷ thứ XVIII của Pháp như Didro, Russo. Các nhà triết học duy vật đều nhấn mạnh vai trò của những nguyên tắc như: nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc bình đẳng.
Nhà triết học Didro cho rằng, “Nhà làm luật thực hiện chức năng của mình khi đảm bảo cho mọi người bình đẳng, tạo cho họ khả năng được sống bình yên và hạnh phúc. Tuy nhiên những trào lưu nghiên cứu về bình đẳng trước Chủ nghĩa Mác Lê Nin và những lý luận phi mácxít tiếp theo thường nghiên cứu bình đẳng trong sự tách rời với cơ cấu kinh tế, xã hội, giai cấp. Những trào lưu lý luận đó coi 7 bình đẳng như một cái gì đó rất trừu tượng, là phạm trù trống rỗng mà có thể chất đầy bằng bất cứ nội dung nào tùy theo ý muốn chủ quan và có lợi cho những giai cấp mà các trào lưu và học thuyết đó bảo vệ hay nói một cách khác họ quan niệm về bình đẳng của một giai cấp được coi như là quan niệm về bình đẳng của toàn xã hội. Mỗi giai cấp có quan niệm về bình đẳng dựa trên những nhu cầu về lợi ích phát triển của giai cấp đó.
Chỉ khi đến chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời, nhất là khi xuất hiện Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới sau cuộc cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, khi mà chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất bị phá bỏ, xóa bỏ chế độ người bóc lột người và ở đó các mối quan hệ bình đẳng, công bằng về quyền và nghĩa vụ giữa con người với con người trong xã hội, giữa nhà nước với công dân được xác lập thì vấn đề bình đẳng được giải quyết một cách cụ thể và logic hơn. Các nhà sáng lập của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin đã vạch rõ tình trạng bất công trong xã hội tư bản chính là do chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Để xóa bỏ sự bất công đó cần thiết phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, có như vậy mọi người mới được bình đẳng trong quan hệ sở hữu, mọi người đều có quyền như nhau về địa vị trong quan hệ về tư liệu sản xuất. Như vậy quyền bình đẳng của con người mới được bảo đảm.
Kế thừa những quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu chọn lọc, bổ sung, phát triển và vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – LêNin vào công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ngay từ khi khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa với Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945, ngoài việc có trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”, Người còn khẳng định một chân lý lớn của thời đại mới trong thế kỷ XX: “Tất 8 cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Trong xã hội các giá trị của bình đẳng có thể được biểu hiện ở nhiều phương diện khác nhau. Tuy nhiên, nếu bình đẳng được thừa nhận và bảo đảm về mặt pháp lý tồn tại dưới hình thức các đạo luật, các văn bản quy phạm pháp luật, bằng ý chí thượng tôn pháp luật của con người thì những giá trị của bình đẳng mới có thể hiện được mạnh mẽ giá trị đích thực của nó.
Bình đẳng và pháp luật có mối quan hệ mật thiết với nhau và đều gắn liền với các quan hệ xã hội. Pháp luật là công cụ và khuôn mẫu để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong khi đó bình đẳng là thước đo mà ở đó giá trị về mặt xã hội được đánh giá là ngang bằng, ngang hàng. Những quan niệm về bình đẳng mà pháp luật ghi nhận được coi là bình đẳng về mặt pháp lý. Bình đẳng trước pháp luật là quyền bình đẳng của mọi công dân (mọi người theo quy định của Hiến pháp 2013) trước sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật.
Việc nghiên cứu về vấn đề bình đẳng pháp lý có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc hoàn thiện pháp luật xã hội chủ nghĩa, trong đó có pháp luật Tố tụng hình sự. Quyền bình đẳng là một trong những quyền tự nhiên của con người, gắn bó mật thiết với con người trong hoạt động xã hội, là một trong những giá trị vĩ đại của văn minh con người. Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền con người quan trọng được thế giới ghi nhận và nó được thể hiện: Thứ nhất, là nhu cầu của một chủ thể tự nhiên với tư cách là một con người buộc phải có và cần phải có. Trong xã hội không thể có tự do nếu không có sự bình đẳng thật sự giữa các thành viên trong xã hội với nhau.
Bản chất của sự bình đẳng là công nhận các giá trị như nhau của các thành viên xã hội trong tất cả các lĩnh vực khác nhau: kinh tế, xã hội và pháp luật. 9 Thứ hai, quyền bình đẳng trước pháp luật là một giá trị của xã hội loài người. Dưới góc độ pháp lý, quyền con người trong đó có quyền bình đẳng trước pháp luật được hiểu là trong các quan hệ pháp luật mà mỗi bên tham gia quan hệ đó đều có quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định. Quan hệ về bình đẳng chỉ được xác lập trên cơ sở của tự do và tự nguyện.
Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền tự nhiên của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và nó phải được ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật. Chính pháp luật cũng giới hạn sự bình đẳng với sự bình quân chủ nghĩa và không thể có bình đẳng nếu có người đứng cao hơn pháp luật. Quan niệm như vậy sẽ hóa giải được mâu thuẫn giữa hai lý thuyết về nguồn gốc quyền con người và phù hợp với đặc tính của quyền con người là: tính hiện thực và tính được thể chế hóa thành luật. Từ logic này có thể khẳng định quyền con người là cái có trước và nhà nước với công cụ của nó là pháp luật chỉ làm nhiệm vụ ghi nhận và bảo vệ.
Quyền bình đẳng tuyệt đối không phải là sự ban phát hay có thể xin - cho từ phía nhà nước mà chỉ là ghi nhận, đảm bảo thực hiện và bảo vệ khi nó bị xâm phạm. Thứ ba, quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền không bị pháp luật phân biệt đối xử trong việc hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ. Như trên đã nói, con người sinh ra có thể có sự khác nhau về chủng tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo và địa vị xã hội. Tuy nhiên, đó không phải là căn cứ để pháp luật phân biệt trong việc hưởng các quyền và chịu trách nhiệm pháp lý.
Ngược lại, pháp luật luôn đặt giá trị bình đẳng làm thước đo, tiêu chuẩn để lấp đầy khoảng cách không bình đẳng đó bằng việc quy định các quyền, nghĩa vụ pháp lý ngang nhau. Quyền bình đẳng trước pháp luật không bị pháp luật phân biệt, đối xử còn có khía cạnh khác đó là quyền được hưởng tất cả các quyền con người như nhau ở mọi nơi, mọi lúc và mọi hoàn cảnh. Sự hạn chế quyền bình đẳng trong các nước XHCN ở Đông Âu trước đây là nguyên nhân của các cách mạng dân chủ mà ngọn cờ của nó là vươn tới sự tự do, bình đẳng 10 hơn. Biểu hiện của sự bất bình đẳng là đặt một quan hệ pháp luật nào đó ra ngoài vòng pháp luật: Chính đảng cầm quyền ở các quốc gia đó đã đặt các tổ chức, đảng phái chính trị, các công dân không tuân phục sự lãnh đạo độc tôn của mình ra “ngoài vòng pháp luật”… là những biểu hiện sinh động nhất cho việc vi phạm quyền bình đẳng trước phápluật.
Chính vì vậy, sẽ không bao giờ có quyền bình đẳng trong đó có bình đẳng trước pháp luật nếu trong xã hội còn tồn tại một nhóm người tự cho mình những đặc quyền đặc lợi, tự cho mình ở vị trí cao hơn so với những thành viên khác trong xã hội. Thứ tư, quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, ngang bằng, không thiên vị. Quyền con người luôn đứng trước nguy cơ bị xâm hại từ nhiều phía. Đó có thể là các cá nhân khác trong xã hội cũng có thể từ phía công quyền.
Khi những quyền đó bị xâm hại thì dưới góc độ bình đẳng trước pháp luật, con người đều có quyền được pháp luật bảo vệ như nhau với các quyền pháp lý nhất định. Bảo vệ quyền bình đẳng này cũng là cơ sở để bảo vệ các quyền khác của con người. Quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng là nhu cầu đòi hỏi cần có phương tiện, công cụ pháp lý từ phía nhà nước, được thể hiện ở hai khía cạnh. Đó là quyền được bảo vệ các quyền một cách bình đẳng và quyền được bảo vệ quyền bình đẳng.
Bảo vệ quyền, xét ở cả hai khía cạnh này đều là việc trong pháp luật ghi nhận các quyền bình đẳng và tạo ra cơ chế bảo vệ quyền đó khi nó bị xâm phạm.