Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN 1. Khái niệm, ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 1 1. Khái quát những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội cướp giật tài sản Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Điều 171, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội cướp giật tài sản. Theo các điều luật này, khách thể trực tiếp bị xâm hại là quan hệ sở hữu về tài sản mà đối tượng tác động là tài sản của chủ sở hữu hợp pháp.
Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện bằng hành công khai chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng. Đặc trưng của tội cướp giật tài sản là hành vi giật, tức là giằng mạnh lấy tài sản về mình một cách nhanh chóng (ngay tức khắc). Hành vi giật tài sản đã bao gồm bản chất của tội cướp giật nên Điều luật không mô tả hành vi khách quan của tội cướp giật trong cấu thành tội phạm. Vì hành vi giật tài sản một cách nhanh chóng đã tạo ra yếu tố bất ngờ với chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm về tài sản (người đang quản lý tài sản ) làm cho những người này không có khả năng giữ được tài sản đang quản lý.
Hành vi công khai chiếm đoạt cũng có nghĩa là người phạm tội không có ý thức che giấu hành vi phạm tội của mình và khi thực hiện việc chiếm đoạt cho phép chủ tài sản biết ngay có hành vi chiếm đoạt xảy ra. Để thực hiện hành vi cướp giật tài sản, người phạm tội có thể sử dụng nhiều thủ đoạn khác nhau như: lợi dụng chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản không chú ý, bất ngờ giật tài sản, lợi dụng chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản đang bị vướng mắc hoặc đang điều khiển phương tiện giao thông để giật tài sản. 7 Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành. Về mặt chủ quan, lỗi của người phạm tội cướp giật tài sản là hình thức lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.
Mục đích của tội cướp giật tài sản là chiếm đoạt tài sản của người khác. Hình phạt đối với tội cướp giật tài sản được Bộ luật hình sự hiện hành quy định cụ thể đối với từng trường hợp, thấp nhất là 01 năm tù giam, cao nhất là tù chung thân. Khái niệm nguyên nhân và điều kiện tình hình tội cướp giật tài sản Theo lý thuyết về tội phạm học, nguyên nhân của tội phạm là những hiện tượng, quá trình xã hội có khả năng làm phát sinh tình hình tội phạm trong thực tế. Những hiện tượng quá trình xã hội này có trước tội phạm về thời gian.
Điều kiện là những yếu tố không có khả năng trực tiếp làm phát sinh tình hình tội phạm, không chứa đựng những mâu thuẫn và xung đột trong xã hội nhưng lại tạo ra những khả năng và hoàn cảnh thuận lợi để nguyên nhân nhanh chóng làm phát sinh tội phạm. Trong mối tương quan giữa nguyên nhân, điều kiện thì nguyên nhân luôn là nhân tố trực tiếp làm phát sinh tội phạm, luôn thể hiện những mâu thuẫn về nhiều mặt trong đời sống xã hội, và những mâu thuẫn này luôn tồn tại ổn định về mặt thời gian. Còn điều kiện là những nhân tố tồn tại kém vền vững, không ổn định, dễ bị phá vỡ và thay đổi. Nguyên nhân và điều kiện luôn có sự thay đổi liên tục về mặt lịch sử.
Việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nói chung và các tội xâm phạm hoạt động tư pháp nói riêng được dựa trên luận điểm rất cơ bản, coi tội phạm là một hiện tượng xã hội phức tạp, tồn tại khách quan và có mối liên hệ với các hiện tượng xã hội khác, đồng thời cũng khẳng định khả năng ngăn chặn và từng bước loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. 8 Các nguyên nhân và điều kiện của tình trạng tội phạm rất đa dạng và biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nên việc xác định chúng gặp rất nhiều khó khăn. Bởi vì nguyên nhân và điều kiện có mối liên hệ chặt chẽ với nhau mà nếu tách biệt chúng ra có khi lại không phân biệt được đâu là nguyên nhân, đâu là điều kiện. Hơn nữa, tình trạng tội phạm là hệ quả của nguyên nhân và điều kiện được nảy sinh bỏi rất nhiều các hiện tượng xã hội khách quan và chủ quan tác động qua lại lẫn nhau và luôn nằm bên ngoài ý thức của người phạm tội.
Vì vậy có những trường hợp có thể coi hiện tượng xã hội này là nguyên nhân nhưng cũng có thể coi đó là điều kiện mặc dù nguyên nhân và điều kiện là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau của chủ nghiã duy yật biện chứng. Điều đó có nghĩa rằng nguyên nhân không phải là điều kiện nhưng ở một hoàn cảnh nào đó, một chừng mực nào đó thì điều kiện lại trở thành nguyên nhân của tội phạm. Tuy nhiên sự phân tích trên chỉ có tính chất tương đối. Tội phạm học phân chia nguyên nhân và điều kiện của tội phạm học làm ba loại: - Nguyên nhân và điều kiện của tình trạng tội phạm nói chung - Nguyên nhân và điều kiện của nhóm tội phạm (có cùng khách thể loại) - Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể.
Để làm rõ nguyên nhân của tội phạm cụ thể thì không chỉ phân tích một tội phạm cụ thể biệt lập, mà cần xem xét nó trong mối quan hệ giữa cái Chung và cái riêng, giữa bộ phận và chỉnh thể, tức là phải dựa trên những nhận xét, đánh giá và tìm hiểu các nguyên nhân và điều kiện của tình trạng tội phạm nói chung cũng như tìm hiểu nguyên nhân và điều kiện của một nhóm tội có cùng khách thể loại. Việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện phạm tội ở ba mức độ như vậy không có nghĩa là phân chia 9 một cách cơ học các nguyên nhân và điều kiện ra làm ba phần: cho tình trạng tội phạm, cho một nhóm tội và cho một tội phạm cụ thể mà ở đây, các nguyên nhân và điều kiện đó phải được xem xét trong một hệ thống. Giữa các yếu tố là nguyên nhân và điều kiện có vô vàn mối liên hệ với nhau, tác động lên tình trạng tội phạm trong những phạm vi khác nhau và ở những mức độ khác nhau. Với tính cách là hiện tượng xã hội, tình hình tội phạm có nguyên nhân và điều kiện xã hội.
Về vấn đề này, GS.TS Võ Khánh Vinh khẳng định: “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm được hiểu là hệ thống các hiện tượng xã hội tiêu cực trong hình thái kinh tế–xã hội tương ứng quyết định sự ra đời của tình hình tội phạm như là hậu quả của mình” và “các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm tạo thành một hệ thống gồm nhiều bộ phận cấu thành nó” [39, tr.86] Với tính cách là những hiện tượng xã hội tiêu cực, nguyên nhân và điều kiện xuất hiện trong xã hội, tồn tại trong xã hội có nguồn gốc và bản chất mang tính xã hội; chúng bao giờ cũng nằm trong hệ thống các mâu thuẫn xã hội trong tất cả mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Các hiện tượng tiêu cực này luôn tương tác qua lại với nhau sinh ra tình hình tội phạm. Và khi tình hình tội phạm xuất hiện thì có sự tác động trở lại tái sản xuất ra tình hình tội phạm như là một kết quả tất yếu. “Bởi một hiện tượng nào đó trong mối liên hệ này là nguyên nhân thì trong mối liên hệ khác là kết quả, và ngược lại” [25, tr.
Trong nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm thì điều kiện cũng giống như nguyên nhân đó là những hiện tượng xã hội tiêu cực, và điều kiện không sinh ra tình hình tội phạm mà nó chỉ là chất xúc tác có tác dụng hỗ trợ, thúc đẩy tình hình tội phạm. Trong thực tế việc phân định rõ đâu là nguyên nhân, đâu là điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản là việc khó khăn. 10 Trong lĩnh vực xã hội nói chung và tội phạm học học nói riêng, sự phân biệt giữa nguyên nhân và điều kiện chỉ mang tính chất tương đối, thực tế đấu tranh và phòng ngừa tội phạm luôn đòi hỏi phải loại trừ cả hai,tức là phải loại trừ cả nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm. Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa như sau: Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản hay của hành vi phạm tội cướp giật tài sản là sự tác động qua lại giữa các yếu tố tiêu cực của môi trường sống bên ngoài với các yếu tố tâm – sinh lý tiêu cực bên trong con người mà trong những tình huống, hoàn cảnh nhất định đã dẫn đến việc thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự hiện hành quy định là tội cướp giật tài sản.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện tình hình tội cướp giật tài sản Nghiên cứu tội phạm học nói chung, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đề ra các biện pháp phòng ngừa đạt hiệu quả, hạn chế, bài trừ tình hình tội phạm ra khỏi đời sống xã hội, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội. Như vậy, nghiên cứu về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản có ý nghĩa sau: Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản góp phần nhận thức về toàn bộ tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn Quận 1 từ đó minh chứng cho sự đúng đắn của lý luận về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm. Thông qua việc nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ thực trạng, cơ cấu, diễn biến của tình hình tội phạm cướp giật tài sản và xu hướng của tình hình tội phạm trong thời gian tới.