phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA NHÀ NGUYỄN TRƢỚC SỰ XÂM LƢỢC CỦA THỰC DÂN PHÁP Nước Đại Nam cuối thế kỉ XIX phải đối mặt với nguy cơ bị chủ nghĩa đế quốc xâm lược. Triều đình nhà Nguyễn, với tư cách là đại biểu giai cấp phong kiến bấy giờ, lãnh trách nhiệm lịch sử, chèo lái con thuyền dân tộc. Mỗi quyết định và sự ứng xử của triều đình Huế quyết định vận mệnh của toàn thể quốc gia dân tộc Việt Nam.
Thực tế, cuối thế kỉ XIX, Đại Nam trở thành thuộc địa của Pháp, bắt buộc phải chấp nhận làm thân phận nô lệ cho ngoại bang. Điều ấy đã khẳng định: nhà Nguyễn đã không làm tròn được trọng trách mà lịch sử trao cho họ, hay phải chăng đó là kết quả của quá trình từng bước lún sâu vào khủng hoảng nhưng lại bế tắc, không thể tháo gỡ của Đại Nam. Do đó, nhìn nhận nguyên nhân mất nước của triều Nguyễn thực chất là luận giải các nguyên do trực tiếp và sâu xa dẫn đến sự thất bại của vương triều Nguyễn khi để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp. Nguyên nhân khách quan 1.1 Cuộc cạnh tranh quyền lực quốc tế và âm mưu xâm lược Việt Nam của Thực dân Pháp Âm mưu xâm lược của tư bản Pháp đối với Việt Nam lâu dài và liên tục, bắt nguồn từ những năm đầu thế kỉ XVII được cắm mốc với việc kí kết hiệp ước Vecxai năm 1787, sau đó ngày càng được xúc tiến một cách mạnh mẽ, đặc biệt từ giữa thế kỉ XIX.
Ở châu Âu, chủ nghĩa tư bản ra đời từ thế kỷ XV, XVI, XVII và ngày càng phát triển. Các thương nhân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Hà Lan. được sự giúp đỡ của nhà nước, đã tổ chức nhiều đoàn thám hiểm. Sau đó, họ thành lập nhiều công ty thương mại, đổ xô sang các châu Mỹ, Á, Phi hòng vơ vét vàng bạc, hương liệu (đinh hương, hồ tiêu, chè.) và nhiều loại nguyên liệu khác với giá rẻ, đồng thời bán hàng công nghệ phẩm.
Chủ trương thôn tính, xâm lược các nước ở ba châu lục này thường được nêu ra với các chính quyền nhà nước vì 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giai cấp tư sản châu Âu đang lên rất cần vốn, nguyên liệu rẻ mạt để phát triển kỹ nghệ chính quốc và cần thị trường tiêu thụ hàng hóa làm ra. Ngoài ra, khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc thì một trong những đặc điểm quan trọng nhất của chính sách đối ngoại là các cuộc chiến tranh xâm lược. Vì luôn luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư sản xâm lấn khắp toàn cầu. Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi” [22, 601].
Trong quá trình đó, hầu hết các nước thuộc châu Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh trong hoàn cảnh nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển đều trở thành miếng mồi ngon béo bở của các nước đế quốc phương tây. Trước khi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược và thống trị, nền văn hóa xã hội của các nước này phát triển khá cao. Nơi đây đã xuất hiện sớm những nền văn minh lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Á… thậm chí sớm hơn cả Phương Tây hàng thiên niên kỉ. Tuy nhiên, sự phát triển của những quốc gia ở châu Á không giống nhau.
Chế độ phong kiến đạt đến trình độ phát triển cao và dần dần chuyển sang giai đoạn suy yếu. So với các nước ở Phi và Mỹ Latinh thì ở các nước châu Á trình độ phát triển kinh tế cũng tương đối cao hơn. Ở thời Trung đại, chế độ phong kiến đạt tới đỉnh cao cực thịnh, rực rỡ cũng không thua kém gì phương Tây, quan hệ sản xuất kinh tế chủ nghĩa cũng đã manh nha nhưng đã bị chế độ phong kiến kìm hãm, mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa không có điều kiện phát triển như ở phương Tây. Trong khi ở phương Tây chuyển sang giai đoạn hiện đại hóa, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn phát triển nhanh chóng thì ở châu Á còn chìm đắm trong chế độ phong kiến lạc hậu.
Trên đà bành trướng sang phương Đông, đến giữa thế kỷ XIX, các nước đế quốc phương Tây đã thâm nhập sâu vào các nước châu Á, đặc biệt các nước nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển. Thất thế tại châu Mĩ, thua Anh tại Ấn Độ và châu Phi, người Pháp rơi vào nguy cơ đánh mất vị thế của mình trên trường quốc tế; trong khi nhu cầu tìm kiếm thị trường trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Nửa đầu thế kỷ XIX, Pháp thực ra không có nhu cầu phát triển kinh tế ở Viễn Đông, động lực thôi thúc không 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mạnh mẽ: thực dân Pháp đang kiếm tìm những thị trường béo bở hơn như Trung Quốc. Nhưng với tình hình bị đánh mất ảnh hưởng của từng mảng trên bản đồ thế giới, chính phủ Pháp không thế kén chọn chần chừ được nữa.
Chính quyền Pháp có thể tranh thủ vùng Viễn Đông giàu có. Tiền đề thấu hiểu văn hóa đã được các giáo sĩ thừa sai làm tốt, cơ hội làm sáng danh Đức chúa trời được hỗ trợ bởi sự thôi thúc kinh tế sau khi Pháp bị mất các tỉnh Đông Nam giàu có vào tay Đức, lại phải bồi thường chiến phí nặng nề. Hơn nữa, Pháp lại muốn cạnh tranh quyền lực với Anh. Mục đích kinh tế rồi chính trị dồn dập đưa Pháp tới Đông Dương.
Vậy là tình thế của kẻ đói thức ăn không cho phép sự chậm trễ. Đông Dương được nhắc đến nhiều hơn và An Nam lấp lánh như viên ngọc qua những bản báo cáo của các giáo sĩ đang có mặt ở An Nam. Trong bối cảnh chung đó, Việt Nam cũng đứng trước nguy cơ bị xâm lược. Trong số các nước tư bản phương Tây đang nhòm ngó và lăm le xâm lược nước ta lúc bấy giờ, Pháp là nước có nhiều “dây mơ rễ má” lâu đời với nhà Nguyễn.
Năm 1802, sau khi đánh bại Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế thiết lập triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Sau khi lên cầm quyền, Gia Long đã “trả ơn” cho những người Pháp có công giúp ông ta về nhiều mặt trong cuộc chiến tranh giành quyền lực với Tây Sơn bằng cách giữ lại một vài người làm quan trong triều như Jean Baptiste Chaigneua, Philippe Vannier…Gia Long đãi ngộ họ rất hậu, phong cho họ các chức võ quan cao cấp… Để tỏ lòng đặc biệt ưu ái, nhà vua ra lệnh miễn cho họ lệ mỗi khi vào chầu không phải sụp lạy năm lần như các quan lại người Việt mà chỉ cần khấu đầu năm vái. Nhà vua còn cấp cho họ mỗi người một đội lính hầu 50 người…hoàn toàn thuộc quyền sai bảo của họ. Tuy nhiên, những người Pháp này tuy ăn bổng lộc của vua Nguyễn, nhưng họ vẫn không quên “Nước Mẹ” mà họ rắp tâm tìm cơ hội phục vụ quyền lợi.
Nhưng trong giai đoạn này, do cuộc chiến tranh cách mạng chống lại liên minh phong kiến châu Âu can thiệp và bọn lưu vong kéo dài trong suốt 20 năm (1792-1815) đã không cho phép nước Pháp hành động trực tiếp, tuy vậy Pháp vẫn không ngừng nhòm ngó Việt Nam. Bonaparte sau khi dựa vào giai cấp tư sản và quân đội để làm cuộc đảo chính 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thắng lợi và thiết lập nền chuyên chính quân sự của giai cấp tư sản, mặc dù còn rất bận chiến trang với các nước châu Âu; Bonapart cũng đã để ý tới Việt Nam. Năm 1857, nước Anh đang dính líu đến cuộc nổi loạn ở Ấn Độ và do đó sẽ không đủ sức mạnh để ngăn cản Pháp giành một bàn đạp tại Đông Nam Á. Đây là một thời điểm đặc biệt thuận lợi.
Và Pháp đã cho tàu chiến tới Đà Nẵng kiếm cớ gây sự với Việt Nam. Khi được tin báo từ một giáo sĩ về tình hình Việt Nam năm 1857: “Những người Anh đang dòm ngó Đà Nẵng, họ sẽ đi trước chúng ta nếu họ biết đề án đánh chiếm của chúng ta” [13, 208], Napôlêông III đã cho thành lập Uỷ ban nghiên cứu vấn đề Nam Kỳ để “xét lại hiệp ước Vécxây” nhằm đẩy nhanh tiến trình thực hiện mục tiêu xâm lược Việt Nam. Trước sức ép đòi hỏi mở cửa giao thương ngày càng lớn của thực dân Pháp thì các vua đầu thời nhà Nguyễn đều có thái độ thận trọng mang tính thăm dò trước thái độ và hành động của giới thương nhân và chính quyền Pháp. Vị vua kế tục Gia Long là Minh Mạng không có cảm tình với người Pháp như thái độ chung của người Á Đông lúc đó, coi người châu Âu là bọn man di, là quân xâm lược.
Ngoài ra ông cũng không thích cả Công giáo của Châu Âu. Sau này khi Tự Đức lên cầm quyền, triều đình vẫn cai trị theo phong cách nho giáo. Chính quyền trung ương không có một chính sách gì đối phó với âm mưu và hành động của phương Tây, thậm chí cấm đạo và buôn bán ngày càng ngặt nghèo. Mặt khác, lúc này trong nội bộ nước Pháp còn xuất hiện trào lưu biện minh cho hành động xâm lược bành trướng của giới cầm quyền Pháp tại Đông Dương.
Việc chinh phục thuộc địa là một vấn đề sinh tồn của nước Pháp, vì nước Pháp chẳng là gì bên cạnh những quốc gia khổng lồ như Nga, Đức, Anh, Hoa Kỳ và cả Trung Hoa nữa…. Sự bành trướng hải ngoại như một phương diện cho phép nước Pháp chiếm lại địa vị của nó trên chính trường quốc tế…Chính sách thực dân là con đẻ của chính sách kỹ nghệ, và phải làm xuất hiện nhiều lớp người tiêu thụ mới, nếu không xã hội tân thời sẽ thất bại; chính sách thực dân cũng cho phép nước Pháp tham dự vào việc phân chia thế giới và tạo cơ hội truyền bá văn minh Pháp cho các dân tộc da vàng, da đen. Tư tưởng này càng củng cố quyết tâm của 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực dân pháp vốn đang khao khát thị trường và thúc đẩy hành động xâm chiếm bằng được nước ta.2 Đất nước khủng hoảng suy yếu về mọi mặt Tư bản Pháp đã chọn đúng lúc để nổ súng xâm lược Việt Nam khi chế độ phong kiến Việt Nam đang đi sâu vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng. Chế độ phong kiến Việt Nam đã khủng hoảng nặng từ cuối thế kỉ XVIII.