CHƯƠNG 1 9 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA CÔNG CUỘC CẢI TỔ Ở LIÊN XÔ. Bối cảnh thế giới tác động đến Liên Xô trong những năm trước cải tổ 1. Liên Xô đứng trước những thách thức của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới và sự phát triển vượt trội của các nước tư bản phương Tây Vào những thập niên cuối của thế kỷ XX, thực lực các nước tư bản phương Tây phát triển nhanh chóng, vị trí của Liên Xô - cường quốc kinh tế đứng thứ hai thế giới bị đe dọa. Tình hình ấy rõ ràng hơn từ thập kỷ 1970 trở về sau.
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối thập kỷ 50, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Liên Xô khoảng 10%. Riêng giai đoạn 1946 – 1950, là 14,2% và từ năm 1951 – 1960 là 10%. Từ giữa thập kỷ 60 tốc độ tăng trưởng bắt đầu giảm: trong kế hoạch 5 năm lần thứ VIII (1966 – 1970) tốc độ tăng còn 7,1%, đến lần thứ IX còn 5,1%, lần thứ X là 3,9%. Đến 1982, khi tổng bí thư Brêgiơnhép qua đời tốc độ tăng trưởng chỉ còn 2,6% - mức thấp nhất thời kỳ sau chiến tranh.
Vị trí Liên Xô với tư cách là cường quốc kinh tế đứng thứ hai thế giới bị Nhật Bản thách thức nghiêm trọng. Theo thống kê của Liên Xô công bố, từ năm 1960 -1965 thu nhập quốc dân của Nhật Bản tăng 4,5 lần; giá trị sản lượng công nghiệp tăng 6,5 lần; năng suất lao động công nghiệp tăng 4,3 lần. Cùng thời kỳ, chỉ tiêu tăng trưởng của Liên Xô chỉ là 3,9; 4,8 và 3 lần. Còn so với Mỹ khoảng cách chênh lệch còn xa hơn: năm 1986, tổng sản phẩm xã hội của Mỹ là 3.900 tỷ đôla, Liên Xô chỉ là 1.
Với các số liệu thống kê tổng hợp trên cho thấy vị trí của Liên Xô bị thách thức nghiêm trọng. Điều đáng lưu ý là thực lực kinh tế của các nước phương Tây tăng lên chủ yếu nhờ vào sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật, trong khi tăng trưởng kinh tế của Liên Xô vẫn chủ yếu dựa vào sự phát triển theo chiều rộng. Đứng trước cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật mới của thế giới, Liên Xô vấp phải một thách thức lớn về sự phát triển nền kinh tế theo hướng hiện đại của khoa học – kỹ thuật, tức là đưa nền kinh tế phát triển từ chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu. Nên nhớ là Liên Xô vốn có tiềm lực khoa học - kỹ thuật rất lớn, có thời kỳ Liên Xô đứng đầu thế giới về xây 10 dựng nhà máy điện nguyên tử và kỹ thuật vũ trụ.
Cán bộ khoa học – kỹ thuật của Liên Xô chiếm 1/4 tổng số cán bộ khoa học – kỹ thuật trên thế giới (đông nhất thế giới); phát minh kỹ thuật mới hằng năm chiếm 1/3 thế giới, đứng thứ hai trên thế giới, chỉ kém Nhật Bản. Tuy nhiên, do cơ chế quản lý kinh tế, chỉ có 1/4 thành quả kỹ thuật mới được ứng dụng trong nền kinh tế quốc dân, và thời gian từ nghiên cứu đến ứng dụng một hạng mục kỹ thuật mới kéo dài từ 10 đến 12 năm. Trong khoa học – kỹ thuật, Liên Xô còn tồn tại hiện trạng mất cân đối: công nghiệp quân sự phát triển mạnh, công nghiệp dân dụng tương đối lạc hậu. Một số ngành công nghiệp truyền thống của Liên Xô có sản lượng đứng đầu thế giới như: gang thép, dầu mỏ, khí đốt thiên nhiên, xi măng,… nhưng các ngành khoa học – kỹ thuật mới như: vi điện tử, năng lượng mới, vật liệu mới, kỹ thuật thông tin, vi sinh vật lại tụt hậu so với phương Tây.
Theo thống kê, giữa thập kỷ 80, trình độ khoa học kỹ thuật chung của Liên Xô lạc hậu so với các nước tư bản phát triển phương Tây khoảng 15 năm. Trong thời kỳ này, số lao động thủ công của Liên Xô vẫn còn khoảng 50 triệu người, trong đó công nhân lao động thủ công ngành công nghiệp chiếm khoảng 1/3, ngành xây dựng chiếm khoảng 1/2, nông nghiệp chiếm 3/4. Goócbachốp thừa nhận “sự phát triển theo chiều rộng về cơ bản đã làm hao mòn tiềm lực”, “căn bản không còn con đường nào khác, ngoài đẩy mạnh tiến bộ khoa học – kỹ thuật” [53,10]. Phải tiến hành cải tổ lại cơ cấu nền kinh tế và phương pháp lãnh đạo.
Trước xu thế cải cách của một số nước xã hội chủ nghĩa + Ở các nước Đông Âu: Tháng 7 năm 1948, Đại hội đại biểu lần V Liên đoàn những người cộng sản Nam Tư đã khẳng định rằng: không thể rập khuôn theo mô hình của Liên Xô, bởi vì trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng tồn tại quy luật giá trị, do đó cần lợi dụng đòn bẩy kinh tế trong quản lý kinh tế và khắc phục những tác hại của chủ nghĩa quan liêu. Từ thập kỷ 1940 đến đầu thập kỷ 1950, ở Nam Tư bắt đầu thực hiện một số cải cách quan trọng như lập hội đồng công nhân, loại bỏ một số bộ chủ quản liên bang và thực hiện mở 11 rộng quyền tự chủ cho xí nghiệp, giao tư liệu sản xuất cho tập thể lao động điều hành. Thập kỷ 60 tiếp tục mở rộng phạm vi tự quản. Ngoài ra Nam Tư còn mở rộng hơn nữa quyền tự chủ kinh doanh ngoại thương của xí nghiệp, tiến hành cải cách giá cả, thu hút vốn nước ngoài, lập xí nghiệp hùn vốn.
Sau khi xuất hiện khủng hoảng kinh tế, năm 1983, Nam Tư đề ra “Chương trình phát triển ổn định kinh tế”; năm 1986, Đại hội đại biểu lần thứ XIII Liên đoàn những người cộng sản Nam Tư nhấn mạnh hơn nữa sự cần thiết phải thực hiện cải cách sâu rộng chế độ kinh tế, chính sách kinh tế và chính sách phát triển nhằm bảo vệ và phát triển quan hệ tự quản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng thị trường thống nhất, khắc phục lạm phát tiền tệ và giải quyết nạn thất nghiệp. Trong khi đó, ở Hunggari sau năm 1956, ban lãnh đạo Đảng đã bắt tay điều chỉnh cơ cấu kinh tế quốc dân, cải cách thể chế kinh tế. Đặc biệt chú trọng điều chỉnh quan hệ tỷ lệ giữa nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, loại bỏ kế hoạch phát triển công nghiệp nặng, đặt phát triển nông nghiệp lên hàng đầu, đồng thời coi trọng phát triển công nghiệp nhẹ, làm cho nền kinh tế nhanh chóng chuyển biến tốt. Thập kỷ 60, Hunggari từng bước đi sâu thực hiện cải cách thể chế quản lý công nghiệp, kết hợp hữu cơ quản lý tập trung có kế hoạch của kinh tế quốc dân với tác dụng tích cực của thị trường, phân định rõ quyền quyết sách giữa nhà nước và xí nghiệp, quản lý kinh tế chủ yếu bằng biện pháp kinh tế, về cơ bản dùng kế hoạch hướng dẫn thay thế kế hoạch pháp lệnh.
Tiếp sau Hunggari là các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Cộng hòa dân chủ Đức,v. cũng thực hiện những bước đi nhất định trong cải cách kinh tế Như vậy, chính những bước đi đầu tiên trong cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã rất chú ý tăng cường khống chế ở tầm vĩ mô và mở rộng quyền tự chủ của xí nghiệp, kết hợp giữa cải cách thể chế kinh tế với thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật và phát triển sản xuất, tiến hành cải cách thể chế kinh tế với cải cách thể chế chính trị, chú ý tăng cường 12 nghiên cứu lý luận kinh tế đã tạo sức ép thúc đẩy Liên Xô xem xét mình nên làm như thế nào. Đó được xem là động lực từ bên ngoài thúc đẩy Liên Xô thực hiện công cuộc cải tổ. + Ở Trung Quốc Từ năm 1979 Trung Quốc tiến hành cải cách và mở cửa, xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc và giành được nhiều thành tựu to lớn.
Trong kế hạch 5 năm lần thứ VI, từ 1980 đến 1985 (năm Goócbachốp lên cầm quyền), tổng sản phẩm công nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 11%, trong đó tổng giá trị sản phẩm công nghiệp bình quân hằng năm tăng 12%, tổng sản phẩm nông nghiệp tăng bình quân hằng năm 8,1%. Từ năm 1980 đến 1985 sản lượng than nguyên khai của Trung Quốc từ 620 triệu tấn lên 1.150 tỷ tấn; dầu thô từ 106 triệu tấn lên 125 triệu tấn; lượng điện phát từ 300 kw/h tăng lên 473 kw/h; thép từ 37 triệu tấn lên 46,60 triệu tấn [53,11]. Thành tựu của công cuộc cải cách mở cửa Trung Quốc để lại nhiều kinh nghiệm có giá trị cho công cuộc cải tổ ở Liên Xô: - Về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, từ chỗ chỉ chú trọng công nghiệp, đặc biệt là tăng trưởng giá trị sản phẩm công nghiệp nặng, bắt đầu chuyển trọng tâm sang nâng cao hiệu quả kinh tế, chú ý phát triển hài hòa nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng, chú trọng phát triển toàn diện kinh tế, khoa học – kỹ thuật, giáo dục, văn hóa. - Về thể chế kinh tế, từ thể chế xơ cứng, quản lý tập trung toàn diện chặt chẽ bắt đầu chuyển sang cơ chế mới, đầy sức sống và năng động, thích ứng với đòi hỏi phát triển có kế hoạch nền kinh tế hàng hóa trên cơ sở chế độ công hữu.
Trong cải cách thể chế kinh tế, trước tiên thực hiện bước đột phá quan trọng ở nông thôn, thực hiện toàn diện chế độ khoán, gắn sản phẩm với hộ gia đình và thực thi một loạt biện pháp cải cách khác, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất ở nông thôn, làm cho nền kinh tế nông thôn bắt đầu chuyển theo hướng chuyên môn hóa, hàng hóa hóa, hiện đại 13 hóa. Cải cách ở khu vực thành thị được thực hiện theo hướng làm sống động các xí nghiệp, đồng thời tiến hành cải cách với mức độ khác nhau về các mặt: ngân sách, thuế giá cả, tiền tệ, thương nghiệp, tiền lương. Về kinh tế đối ngoại đáng chú ý là sự phá vỡ tình trạng khép kín và nửa khép kín để chuyển sang nền kinh tế mở và sử dụng các hoạt động trao đổi quốc tế như động lực tăng trưởng kinh tế. Những cải cách như vậy được thực hiện trên cơ sở đổi mới tư duy, phá vỡ tư tưởng “tả” và quan niệm kinh tế tự cấp tự túc, đối lập tự lực cánh sinh với mở cửa ra bên ngoài… Thành quả bước đầu công cuộc cải cách mở cửa Trung Quốc đã có sức hấp dẫn to lớn đối với các nhà lãnh đạo Liên Xô.
Thực trạng Liên Xô trước cải tổ Thực trạng kinh tế Năm 1922, Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết được thành lập (gọi tắt là Liên Xô), là quốc gia xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới.