Chương 1: nhận thức về nhân thân người phạm tội và nguyên nhân, điều kiện của tội phạm Chương 2: tình hình tội phạm trộm cắp tài sản và đặc điểm nhân thân của người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Chương 3: nguyên nhân, điều kiện của tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh từ đặc điểm nhân thân người phạm tội và các biện pháp phòng ngừa. 6 CHƢƠNG 1 NHẬN THỨC VỀ NHÂN THÂN NGƢỜI PHẠM TỘI VÀ NGUYÊN NHÂN, ĐIỀU KIỆN CỦA TỘI PHẠM Vấn đề nhân thân người phạm tội đã và đang được các nhà tội phạm học nghiên cứu nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác phòng ngừa tội phạm trong thực tiễn. Khi nghiên cứu về nhân thân người phạm tội, vấn đề quan trọng đầu tiên là phải xác định được khái niệm nhân thân người phạm tội và các đặc điểm nhân thân của người phạm tội.
Khái niệm nhân thân người phạm tội sẽ được làm rõ thông qua khái niệm nhân thân con người nói chung.1 Khái niệm nhân thân con ngƣời, nhân thân ngƣời phạm tội 1.1 Khái niệm nhân thân con người Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì “Con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội. Con người được tự nhiên sinh ra cho nên trước tiên mang đặc tính của sinh vật. Cái sinh học trong con người quy định sự hình thành những hiện tượng và quá trình tâm lý của con người”.1 Khái niệm “Con người” thể hiện đầy đủ các đặc trưng khác nhau trong bản chất của nó: xã hội, sinh học, đạo đức, tinh thần, lịch sử - văn hóa. Con người do tự nhiên sinh ra nên mang đặc điểm sinh học như là một tất nhiên, giống như một thực thể sinh vật tồn tại đòi hỏi con người có quá trình hoạt động để phục vụ cho cuộc sống của bản thân nhưăn, uống, nghỉ ngơi v.
Nhưng con người không phải là những động vật thuần túy mà là động vật mang tính chất xã hội. Con người là sản phẩm của xã hội, mang bản tính xã hội và là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Những đặc điểm xã hội của con người thể hiện trong quá trình sống nhằm thỏa mãn những nhu cầu sinh học của mình. Điều đó không chỉ giúp con người tồn tại mà còn đưa con người trở thành cá nhân trong xã hội, là chủ thể của những mối quan hệđa dạng trong xã hội.
Tồn tại trong quá trình phát triển xã hội, con người không chỉ có mối quan hệ với nhau trong xã hội mà còn là tổng hòa các mối quan 1 Nguyễn Thị Thanh Thủy (1996), Nhân thân người phạm tội trong tội phạm học, trường Đại học Luật Hà Nội, Tr. 7 hệ xã hội trước đó; biểu hiện là thế hệ sau đã kế thừa một lực lượng sản xuất và di sản văn hóa của thế hệ trước. Nếu khái niệm “Con người” mang những dấu hiệu nhưđã phân tích thì nhân thân – chính là những đặc trưng cụ thể hơn của con người. Nhân thân là những tính chất, đặc điểm nhất định của con người được đúc kết từ những môi trường xã hội.
Trong nhân thân tập trung các phẩm chất và dấu hiệu xã hội đặc thù chứ không phải các dấu hiệu sinh học. Các đặc điểm nhân thân chủ yếu xác định mối quan hệ giữa con người với những người khác, với toàn thể xã hội, xác định vị trí, vai trò của con người trong hệ thống quan hệ xã hội. Nhân thân không phải là một chỉnh thể được thiết định một cách có di truyền, nhân thân không phải do sinh ra đã có mà là do trưởng thành mà có. Một con người không lập tức trở thành một cá nhân có nhân cách xã hội ngay sau khi lọt lòng mẹ.
Họ chỉ có thể có được những tính chất đó trong quá trình hoạt động xã hội và trong đời sống xã hội.Mác đã từng nói: thực chất của nhân thân “Không phải ở bộ râu, ở dòng máu, ở các thể chất trừu tượng của nó mà là ở tính chất xã hội của nó”.2 Do vậy khái niệm “Nhân thân” được sử dụng để nhấn mạnh các tính chất xã hội của con người, còn khái niệm “con người” được sử dụng với ý nghĩa rộng hơn. Nhân thân là một phạm trù mang tính xã hội – lịch sử, nó sẽ không thể được làm sáng tỏ nếu xem xét nó với tư cách là một hiện tượng tách biệt và khép kín, tách rời nó với hiện thực xã hội và các điều kiện lịch sử cụ thể đặc trưng cho hiện thực đó. Nhân thân là tổng hợp đặc điểm của một cá nhân chứ không phải mỗi cá nhân là một nhân thân,“Mỗi cá nhân có một nhân thân”; song khái niệm nhân thân đồng thời bao hàm cả con người với tư cách là một thành viên của xã hội, là một công dân, là đại diện của các giai cấp, các nhóm xã hội nhất định là người mang trong mình một số đặc điểm xã hội điển hình. “Bản chất của con người không phải là cái gì trừu tượng sẵn có trong từng cá nhân riêng biệt.
Bản chất của con người thực tế là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”.3 2 Nguyễn Thị Thanh Thủy (1996), Nhân thân người phạm tội trong tội phạm học, trường Đại học Luật Hà Nội, Tr. 3 Nguyễn Thị Thanh Thủy (1996), Nhân thân người phạm tội trong tội phạm học, Đại học Luật Hà Nội 8 Khác với quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, các nhà tư tưởng tư sản không nghiên cứu mối liên hệ giữa nhân thân con người với xã hội, tách rời nó ra khỏi quá trình phát triển của xã hội, đặt nó “Lên trên xã hội”. Theo họ, nhân thân là những đặc điểm và phẩm chất riêng của một cá nhân cho phép phân biệt với mọi người khác, đứng trên mọi người, có khả năng quyết định tiến trình phát triển của lịch sử. Các đặc điểm quan trọng nhất của nhân thân được coi là tài sản, quyền lực, sức mạnh, sự độc lập với những người khác.
Mục đích của quan điểm như vậy nhằm biện minh cho sự bất bình đẳng xã hội của con người trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Ngoài ra, xã hội học tư sản hiện đại còn có các quan niệm đa dạng khác về nhân thân như các trào lưu triết học tư sản tâm – sinh học, Phrơt, Phrơt mới, chủ nghĩa hành vi, duy tâm chủ quan. Song, chúng đều giống nhau ở một điểm là xem xét nhân thân con người trong sự tách biệt với các điều kiện xã hội cơ bản, với tư cách là một thực thể tách rời khỏi xã hội. Như vậy, chỉ có học thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin mới đem lại một giải pháp khoa học thực sự cho việc tìm hiểu vấn đề nhân thân.
Giá trị chân chính của nhân thân không phải do địa vị xã hội, tài sản hay sự hiểu biết tri thức quyết định mà là xuất phát từ quan điểm xã hội, những giá trị xã hội mà con người đã đóng góp vào. Theo tác giả, một trong những thành phần quan trọng nhất tạo thành nhân thân là sự nhận thức về mặt xã hội của con người về ý nghĩa xã hội của hành vi do mình gây ra. Ý thức của con người, nội dung của nhân thân hoàn toàn được quyết định bởi các quan hệ xã hội như quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị, pháp luật, tư tưởng v.v…Nhân thân được hình thành và phát triển từ những mối quan hệ trên. Bên cạnh đó, một bộ phận khác của nhân thân là những nhu cầu và tính cách của con người với tư cách là một cơ cấu sinh học.
Đó chính là khía cạnh tâm lý – xã hội, khía cạnh tinh thần trong cấu tạo của nhân thân. Chính quá trình hoạt động của con người nhằm thỏa mãn các nhu cầu này xác định được phạm vi nhận thức, xác định tâm trạng, quy định khuynh hướng của con người. Vì vậy, mặc dù từ lâu khoa học đã cho thấy rằng ảnh hưởng mang tính quyết định tới xử sự của con người là các điều kiện xã hội và định hướng xã hội của ý thức con 9 người, nhưng khi nghiên cứu về nhân thân không nên “xã hội hóa” quá mức khái niệm đó, tức là chỉ căn cứ vào địa vị xã hội, các quan hệ xã hội mà không tính đến thế giới tinh thần phong phú của con người, đồng thời cũng không thể “tâm lý hóa” một chiều khái niệm nhân thân, tức là có ý định xem nhân thân chỉ là một tổng thể những thuộc tính, những đặc điểm tâm lý, trạng thái tinh thần mà không xuất phát từ địa vị xã hội, vai trò xã hội của nhân thân. Việc đối lập như vậy về nguyên tắc là sai lầm, vì các hiện tượng tâm lý vừa có những mặt tự nhiên cụ thể, đồng thời về cơ bản lại được thiết định về mặt xã hội và chúng đặc trưng cho con người chính là với tư cách một thực thể xã hội, một nhân thân.
Một dấu hiệu quan trọng khác của nhân thân là thái độ của cá nhân đối với các giá trị xã hội, tức là thái độ đối với những người xung quanh, đối với gia đình, đối với bố mẹ, con cái, vợ chồng, anh em, thái độ đối với tài sản, đối với lao động. Từ những thái độ như vậy mà có những khuynh hướng, những ý định, quan niệm và quan điểm và cách xử sự. Trên cơ sở quan điểm lý luận chung về nhân thân con người như đã phân tích ở trên, tội phạm học nghiên cứu khái niệm nhân thân người phạm tội.2 Khái niệm “Nhân thân người phạm tội” Xét về mặt thuật ngữ, khái niệm nhân thân người phạm tội được hình thành từ hai khái niệm: “Nhân thân” và “Người phạm tội”. Nói đến nhân thân người phạm tội là đề cập đến các đặc điểm dấu hiệu cá nhân của người thực hiện tội phạm.
Đây là cơ sở đầu tiên cho việc xác định khái niệm nhân thân người phạm tội. Dấu hiệu đặc trưng trong nhân thân người phạm tội khác với nhân thân con người nói chung trước hết ở chỗ họđã thực hiện hành vi phạm tội, có nghĩa là họ trở thành chủ thể của tội phạm theo quy định của Luật hình sự. Sự việc phạm tội cho thấy tính chất nguy hiểm của nhân thân được xác định không chỉ bằng tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi do người này gây nên mà còn do vị trí của sự trái pháp luật, động cơ của nó trong hệ thống bản chất đạo đức, tính chất thuộc về nhân thân, mối tương quan giữa bản chất tốt, xấu trong nhân thân người đó.4 4 Lý Văn Quyền (2008), Giáo trình tội phạm học, Nxb CAND, trường Đại học Luật Hà Nội, Tr.