Luận văn nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số miền núi Trung Trung Bộ

Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số miền núi Trung Trung Bộ trong bối cảnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Chuyên ngành

Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài nghiên cứu

2007

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách đánh giá nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Trung Trung Bộ

Nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Trung Trung Bộ đóng vai trò then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi. Theo PGS. Nguyễn Văn Mạnh (Trường Đại học Khoa học Huế), khu vực Trung Trung Bộ bao gồm ba tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế, nơi sinh sống chủ yếu của bốn dân tộc thiểu số chính: Bru-Vân Kiều, Chứt, Tà Ôi và Cơ Tu. Dữ liệu năm 2007 cho thấy tổng dân số các nhóm này vượt 100.000 người, với tỷ lệ người trong độ tuổi lao động dao động từ 46% đến 53%. Điều này phản ánh tiềm năng lớn về nguồn nhân lực nếu được khai thác đúng cách. Tuy nhiên, đánh giá nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Trung Trung Bộ không chỉ dựa trên số lượng mà còn phải xem xét chất lượng, cơ cấu giới tính, trình độ học vấn và sức khỏe. Đặc biệt, lao động nữ chiếm tỷ lệ cao (trung bình 51,6%), tạo lợi thế cho các ngành nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm hay đan lát. Tuy vậy, phần lớn lực lượng lao động vẫn làm việc trong kinh tế nương rẫy, thiếu kỹ năng nghề nghiệp hiện đại và khả năng tiếp cận thị trường lao động chính thức. Do đó, việc xây dựng hệ thống chỉ báo đánh giá toàn diện là bước đầu tiên để hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số hiệu quả.

1.1. Cơ cấu dân số và độ tuổi lao động các dân tộc thiểu số

Số liệu từ Ban Dân tộc các tỉnh cho thấy dân số các dân tộc thiểu số Trung Trung Bộ tăng đáng kể từ năm 1989 đến 2007. Ví dụ, dân tộc Chứt tăng từ 2.427 lên 4.718 người; dân tộc Tà Ôi tại Thừa Thiên-Huế đạt gần 28.000 người. Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động (15–60 tuổi) dao động quanh mức 50%, cho thấy tiềm năng dồi dào về lực lượng lao động. Tuy nhiên, sự phân bố không đồng đều giữa các tỉnh và nhóm dân tộc làm phức tạp hóa công tác quy hoạch nguồn nhân lực.

1.2. Đặc điểm giới tính và phân bổ lao động

Lao động nữ chiếm ưu thế trong nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Trung Trung Bộ, với tỷ lệ trung bình 51,6%. Điều này mở ra cơ hội phát triển các ngành nghề đòi hỏi sự khéo léo như dệt may, đan lát. Tuy nhiên, đa số lao động nữ vẫn làm việc trong kinh tế nương rẫy hoặc chăn nuôi quy mô nhỏ, chưa được đào tạo bài bản. Việc thiếu tiếp cận với thị trường và kỹ năng nghề nghiệp khiến tiềm năng này chưa được khai thác hiệu quả.

II. Thách thức lớn nhất với nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Trung Trung Bộ

Mặc dù nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Trung Trung Bộ có quy mô tăng trưởng ổn định, nhiều thách thức cản trở sự phát triển bền vững. Trước hết, trình độ học vấn thấp là rào cản lớn. Nhiều trẻ em dân tộc thiểu số bắt đầu lao động từ 7–8 tuổi, tham gia hái lượm, chăn nuôi thay vì đến trường. Hệ thống giáo dục vùng sâu vùng xa còn thiếu thốn, đường sá bị chia cắt vào mùa mưa, khiến tỷ lệ bỏ học cao. Thứ hai, sức khỏe cộng đồng, đặc biệt ở trẻ em, còn yếu kém. Tỷ lệ suy dinh dưỡng cao ảnh hưởng trực tiếp đến thể lực và khả năng học tập, làm giảm chất lượng nguồn nhân lực tương lai. Thứ ba, kỹ năng nghề nghiệp gần như vắng bóng. Phần lớn người lao động chỉ quen với kinh tế nương rẫy, thiếu kỹ năng công nghiệp, kỹ thuật số hoặc ngoại ngữ – những yếu tố thiết yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Cuối cùng, tâm lý e ngại với môi trường đô thị và hệ thống giáo dục chính quy khiến thanh niên dân tộc thiểu số khó hòa nhập vào thị trường lao động hiện đại. Những thách thức này đòi hỏi giải pháp đồng bộ từ giáo dục, y tế đến đào tạo nghề.

2.1. Tình trạng bỏ học và lao động trẻ em

Trẻ em dân tộc thiểu số Trung Trung Bộ thường bắt đầu lao động từ rất sớm, thậm chí trước tuổi lao động hợp pháp (15 tuổi). Việc này không chỉ vi phạm quyền trẻ em mà còn làm cạn kiệt nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai. Thiếu ý thức cộng đồng về giáo dục, kết hợp với điều kiện đi lại khó khăn, khiến tỷ lệ đi học và hoàn thành bậc trung học cơ sở rất thấp.

2.2. Suy dinh dưỡng và sức khỏe cộng đồng

Mặc dù chưa có thống kê đầy đủ, thực tế cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dân tộc thiểu số khu vực này rất cao. Tình trạng còi cọc, thấp bé ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng học tập và lao động sau này. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả phát triển nguồn nhân lực trong dài hạn.

III. Phương pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Trung Trung Bộ

Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Trung Trung Bộ, cần tiếp cận đa chiều, kết hợp giáo dục, y tế và đào tạo nghề. Trước tiên, hệ thống giáo dục phải được điều chỉnh phù hợp với văn hóa bản địa – như dạy tiếng mẹ đẻ song song với tiếng Việt, linh hoạt thời gian học theo mùa vụ. Thứ hai, mở rộng mạng lưới trường liên cấpký túc xá dân tộc nội trú giúp giảm tỷ lệ bỏ học. Thứ ba, chương trình đào tạo nghề cần gắn với thế mạnh địa phương: dệt thổ cẩm, mây tre đan, nông nghiệp sinh thái. Các trung tâm dạy nghề nên phối hợp với doanh nghiệp để đảm bảo đầu ra việc làm. Cuối cùng, cải thiện dịch vụ y tế cơ sởchương trình dinh dưỡng học đường là điều kiện tiên quyết để nâng cao thể chất cho thế hệ trẻ. Những phương pháp này không chỉ giải quyết vấn đề trước mắt mà còn tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

3.1. Cải cách giáo dục phù hợp văn hóa dân tộc

Giáo dục cần tôn trọng bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số Trung Trung Bộ. Việc lồng ghép tiếng mẹ đẻ vào chương trình tiểu học, tổ chức học theo nhóm cộng đồng và linh hoạt lịch học theo mùa vụ sẽ giúp tăng tỷ lệ đi học và giữ chân học sinh. Đây là phương pháp then chốt để xây dựng nguồn nhân lực có tri thức.

3.2. Đào tạo nghề gắn với kinh tế địa phương

Đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số nên tập trung vào các ngành truyền thống có giá trị kinh tế cao như dệt thổ cẩm, đan lát, hoặc nông nghiệp hữu cơ. Sự phối hợp giữa trung tâm dạy nghề và hợp tác xã địa phương giúp đảm bảo việc làm sau đào tạo, từ đó nâng cao thu nhập và động lực học tập.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ các sáng kiến phát triển nguồn nhân lực

Một số sáng kiến tại Thừa Thiên-Huế và Quảng Trị đã cho thấy hiệu quả trong phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Trung Trung Bộ. Ví dụ, mô hình “Làng nghề thổ cẩm Cơ Tu” tại A Lưới không chỉ bảo tồn văn hóa bản địa mà còn tạo việc làm cho hơn 200 lao động nữ, với thu nhập ổn định từ 4–6 triệu đồng/tháng. Tại Quảng Bình, chương trình “Học sinh dân tộc nội trú” đã giúp tỷ lệ tốt nghiệp THCS của học sinh dân tộc Chứt tăng 35% trong 5 năm. Ngoài ra, các dự án y tế cộng đồng như “Bữa ăn dinh dưỡng cho trẻ em miền núi” do UNICEF hỗ trợ cũng góp phần giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng xuống 22% (2015–2020). Những ứng dụng thực tiễn này chứng minh rằng khi kết hợp giữa chính sách địa phương, hỗ trợ quốc tế và sự tham gia của cộng đồng, nguồn nhân lực dân tộc thiểu số hoàn toàn có thể được chuyển hóa thành động lực phát triển bền vững.

4.1. Mô hình làng nghề gắn với đào tạo nghề

Mô hình “Làng nghề thổ cẩm Cơ Tu” tại huyện A Lưới (Thừa Thiên-Huế) là minh chứng cho sự kết hợp giữa bảo tồn văn hóaphát triển kinh tế. Các lao động nữ được đào tạo kỹ năng dệt, thiết kế và tiếp thị sản phẩm, từ đó nâng cao thu nhập và vị thế trong cộng đồng.

4.2. Chương trình nội trú và dinh dưỡng học đường

Chương trình “Học sinh dân tộc nội trú” và “Bữa ăn dinh dưỡng” đã cải thiện rõ rệt chất lượng giáo dụcsức khỏe trẻ em. Tỷ lệ đi học tăng, tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm – hai yếu tố then chốt để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai.

V. Tương lai của nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Trung Trung Bộ

Tương lai của nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Trung Trung Bộ phụ thuộc vào khả năng chuyển đổi từ lao động thủ công sang lao động có kỹ năng trong nền kinh tế số. Với sự hỗ trợ từ chính sách quốc gia như Chương trình 1719/QĐ-TTg về phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, cùng với xu hướng hội nhập quốc tế, cơ hội đang mở ra cho thanh niên dân tộc thiểu số tiếp cận giáo dục nghề nghiệp, khởi nghiệp và việc làm xanh. Tuy nhiên, thành công chỉ đến khi các giải pháp được thiết kế lấy con người làm trung tâm, tôn trọng bản sắc văn hóa, và đảm bảo công bằng giới. Nếu làm được điều này, nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Trung Trung Bộ không chỉ thoát khỏi vòng luẩn quẩn của đói nghèo mà còn trở thành trụ cột trong phát triển bền vững vùng miền núi.

5.1. Hội nhập quốc tế và cơ hội việc làm mới

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, thanh niên dân tộc thiểu số có cơ hội tiếp cận thị trường lao động toàn cầu nếu được trang bị kỹ năng ngoại ngữ, công nghệ thông tin và tư duy khởi nghiệp. Các chương trình liên kết đào tạo với doanh nghiệp FDI là hướng đi khả thi.

5.2. Vai trò của chính sách quốc gia và cộng đồng

Chính sách như Chương trình 1719/QĐ-TTg cần được triển khai sát thực tế, với sự tham gia của cộng đồng dân tộc thiểu số trong thiết kế và giám sát. Chỉ khi người dân là chủ thể của quá trình phát triển, nguồn nhân lực mới thực sự bền vững và hiệu quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số miền núi trung trung bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

(COSO KHOA HOC CHO PHAT TRIÊN VỮNG TRONG BỐI CANH HỘI NHÂP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAN. 3| NGUỒN NHÂN LỰC CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI TRUNG TRUNG BỘ PGS. Nguyễn Văn Mạnh Trường ĐH Khoa học Huế Các dân tộc thiểu số vùng miển núi Trung Trung Bộ! ngoài người Hoa và các DTTS phía Bắc như Tây, Nùng, Thái mới dĩ cư vào trong thời gian gần đây, về cơ bản bao gồm 4 tộc người với trên 100 nghìn nhân khẩu (tính đến năm 2007). Cụ thể ở Quảng Bình có 2 dân tộc thiểu số chính cư trú là người Bru-Vân Kiểu và người Chút với dân số trên 15.000 người [8; 13]; ở Quảng Trị là 2 dân tộc Tadi va Bru-Vân Kiểu với dân số.000 người [5/27]; Thừa Thiên-Huế với 3 dân tộc, Tàôi, Cotu và Bru-Vân Kiểu với gẩn 38.

Nhìn chung, các dân tộc thiểu số (DTTS) Trung Trung bộ có trình độ phát triển kinh tế thấp kém và chịu nhiều thua thiệt về cơ hội phát triển trong quá trình công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH). Vì vậy, muốn đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nơi đây cẩn phải đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực. Đây vừa là động lực cũng vừa là mục tiêu của quá trình CNH, HĐH với cách hiểu toàn điện cúa nội dung khái niệm này theo quan điểm của Đảng ta. Quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực ảnh hưởng rất lớn đến quá trình CNH, HĐH nói riêng và sự phát triển kinh tế xã hội nói chung.

Quy mô của nguồn nhân lực nói lên số lượng người trong độ tuổi lao động, khá năng lao động, sự phân phối nguồn lao động theo giới tính và độ tuổi, địa điểm thành thị hay nông thôn. Trong những năm gần đây, dân số các DTS trong khu vực nghiên cứu không ngừng được gia tăng. Chỉ tính các dân tộc Chứt, Bru-Vân Kiểu, Taéi, Cotu ở khu vực Quảng Bình, Quảng trị, Thừa Thiên-Huế từ năm 1989 đến năm 2007 chúng ta thấy dân số của từng năm gia tăng đáng kê 5; 18]. Trung Trung bộ được tính gồm 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên- Huế.

Ve Nie (EGF Bảng 1: Sự gia tăng dân số các tộc người thiểu số ở Trung Trung bộ Dăn tộc| Chit Tà ôi Bru-Van Kiéu Cơ tu TTHuế Năm SP" [nué] Qmi | Qãmh |rmuế| om | OTH 1989 2427 1994 2861 2006 4718 | 27.978 Nguồn: Bán Dâm tộc các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị rà tình Thừa Thiền-Huế Qua bảng số liệu nêu trên, chúng ta thấy dân số các DTTS nơi đây có chiéu hướng gia tăng đáng kể. Dựa vào quy mô dân số, chúng ta thấy số người trong độ tuổi lao động cũng tăng tỷ lệ thuận theo thời gian hàng năm. Bảng 2: Dân số theo độ tuổi lao động năm 2007 Chứt Tàôi Bru-Vân Kiều Cơtu (Q. | (chỉtínhTTHuế | (chỉtính TTHuế) | (ch tính TTHuế) Dân tộc 6430/3252 | 27924/14718 | 2297/1062 | 15978/8115 % Dan số 502 527 463 508 Nguồn: Ban Dẫn tộc các tỉnh Quảng Bình từ tỉnh Thừa Thiên-Huế Quy mô dân số và số lượng người theo độ tuổi lao động tăng là nền tảng cho việc thực hiện các chính sách phát triển CNH, HĐH ở vùng.

đồng bào các DTTS nơi đây. Việc phân phối nguồn lực theo giới tính cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến quá trình CNH, HĐN. Về cơ bản, nguồn nhân lực các DTTS nơi đây có số lao động nữ chiếm tý lệ khá nhiều, trung bình 51.6% so với số lượng nam giới, có lợi thế là có thể sử dụng lực lượng lao động này vào các ngành kinh tế đòi hỏi sự khéo léo, như dệt, may mặc, dày dép. Đặc biệt, số lao động nữ ở nông thôn có thể tận dụng vào các ngành nghề truyển thống như nghề dệt vài, đệt thổ cẩm, nghề mây tre, đan lát.

Tuy nhiên, nguồn nhân lực nữ ở đây vẫn ‘Ng nn lc di thie nn wt Tag Tae BN m chủ yếu lao động thô sơ, thủ công trong kinh tế nương rẫy, chăn nuôi, hái nhặt các sản vật của tự nhiên. Co cẩu nguồn lao động ở đây chủ yếu tập trung ở những vùng nông, thôn, miền núi. Họ sống trong những cộng đổng làng bản với hoạt động. kinh tế nương rẫy, săn bắn, đánh cá, hái lượm nên khả năng giao lưu tiếp xúc với bên ngoài còn nhiều hạn chế.

Lại nữa, trong những năm qua, nguồn lao động trong các bản làng có xu hướng giảm dẩn. Số người trong độ tuổi lao động, nhất là tầng lớp thanh niên có xu hướng tham gia lao động trong các nông lâm trường, một bộ. phận đã trở thành công. nhân trong các nhà máy, khu chế xuất ở vùng, đồng bằng, đô thị.

Tuy nhiên, do khả năng nhận thức và chất lượng nguồn nhân lực các DTTS nơi đây còn hạn chế, nên tỷ lệ tham gia vào các nhà máy, khu chế xuất còn rất khiêm tốn. Về cơ cấu dân sổ theo độ tuổi, chúng ta thấy dân số trong độ tuổi lao động và dưới độ tuổi lao động chiếm số lượng rất lớn 5; 20]. Bảng 3: Cơ cấu độ tuổi lao động và dưới lao động năm 2007 Cơ cấu độ tuổi Chit Tabi Bru-Ván Kiều Cotu (Q. | (chỉtínhTTHuế) | (chỉ tính TTHuế) | (chỉ tính TTHuế) Tổng dân số.115 Dưới độ tuổi LD 1821 10.590 Nguồn: Ban Dẫn tộc tỉnh Quảng Bình tà tỉnh Thừa Thiên-Huế Thông qua bảng số liệu trên, chúng ta có thể nhận thấy cơ cấu dân số của đổng bào các DTTS Trung Trung bộ là cơ cấu dân số trẻ, trong, đó độ tuổi lao động chiếm trên dưới 50% tổng dân số; nhóm dưới độ tuổi lao động chiếm khoảng trên 30%, nhóm trên độ tuổi lao động - những người già, chỉ chiếm khoảng trên 15%.

Điểu này khẳng định rằng nguồn nhân lực các DTTS ở day rat dổi dào, có thể đáp ứng về nguồn lực lao động cho sự nghiệp phát triển CNH, HĐH. Hiện nay, dân số dưới độ tuổi lao động chủ yếu là các em nhỏ và tầng lớp thiếu niên đểu được đến các trường PTCS và trường trung học nội trú. Tuy m =¬ Nguyễn Văn Mạnh dấu hiệu đảng mừng thúc đẩy quá trình đa dạng hoá cơ cấu kinh tế, góp phẩn thúc đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH vùng đồng bào các DTTS nơi đây. Cũng cẩn phải nói thêm rằng, trong những năm gẩn đây, nhờ chủ trương của Đảng và Chính phủ về việc nâng cao giáo dục cho con em đồng bào các DTTS nên một số thanh thiếu niên đã được tham gia vào các lớp học cứ tuyển ở các trường đại học.

Sau khi ra trường, phẩn lớn nguổn nhân lực này tham gia vào các tổ chức xã hội và các thành phẩn kinh tế quốc doanh. Tuy nhiên nguồn nhân lực tham gia vào các thành phần kinh tế quốc doanh của đổng bào các DTTS còn rất khiêm tốn. Như vậy, thực trạng nguồn lực của đồng bào DTTS vùng TTB đang nổi lên những vẩn để chính sau đây: ~ Nguồn nhân lực lao động trẻ, kể cả nguồn lực trong độ tuổi lao động và dưới độ tuổi lao động. Để bổ sung vào nguổn nhân lực lao động, trong tương lai, đây được coi là một thuận lợi đáng kể cho sức bật, sức vươn lên cho quá trình CNH, HĐH của cộng đồng dân cư nơi đây.

~ Nguồn nhân lực lao động của đồng bào DTTS số nơi đây có truyền thống yêu lao động, cẩn cù, siêng năng, chịu khó trong, công việc, biết dựa trên nển tảng các giá trị truyền thống để tiếp nhận cái hay, cái mới của thời đại. Trong xu thế hiện nay, họ biết lắng nghe, biết học hỏi, biết đổi mới nhận thức, đổi mới cách nghĩ cách làm. ~ Nguồn nhân lực của đồng bào DTTS nơi đây đã tham gia một cách tích cực, phổ biến ở tất cả mọi xu hướng của quá trình CNH, HĐH vùng. Có những xu hướng họ mới làm quen, mới bước đầu tiếp nhận.

như xu hướng tham gia vào các hoạt động du lịch, tham gia vào các nông. lâm trường, nhà máy, xí nghiệp. Có những xu hướng họ tham gia để biển chuyển hoạt động kinh tế truyền thống của mình, như đa dạng hoá ngành nghề, kinh tế thị trường. Đây được coi là những nhântố tích cực về nguồn nhân lực của đồng, bào các DTTS vùng núi Trung Trung bộ, thúc đẩy quá trình CNH, HĐH đang diễn ra hàng ngày hàng giờ trên quê hương của họ.

Tuy nhiên, nguồn nhân lực lao động ở đây cũng có những hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển CNH, HĐH, như: (344 Nguễn Vi Mạnh lao động đều tham gia một cách tích cực, nhất là tầng lớp trung niên. Họ được các cán bộ khuyến nông khuyến lâm, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thực hiện các chương trình dự án trên địa bàn miền núi, cung cấp giống cây trổng vật nuôi, cho vay vốn và hướng dẫn cụ thể cách thức trồng trọt và chăn nuôi [1;48]. Ví như đổng bào các dân lộc Chit, Bru-Van Kiểu, Tàôi, Cotu,. ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế được hướng dẫn cách trồng sắn cao sản K94, ngô lai, cách trổng lúa nước, cách trổng các loại cây ăn quả có giá trị hàng hoá như nhãn, thanh long, cam, cà phê, cao su, quế.

và cách nuôi bò lai sin, nuôi đê, nuôi lợn, trâu, bò với hình thức chăn dắt, chuổng trại. Từ đó, các nguồn nhân lực lao động ở đồng bào đã biến đổi cách nghĩ cách làm, họ dan dan đã chuyển đổi từ cách thức trồng trọt nương rây với cây lúa hoặc sắn, ngô và kinh tế hái nhặt các sản vật trong tự nhiên, chăn nuôi thả rông, sang trổng trọt các loại cây, nuôi những vật nuôi cỏ giá trị hàng. hoá, có nghĩa là những cây trồng và những vật nuôi mới mà từ trước. đến nay họ chưa từng làm.

Và như vậy người dân phải làm quen với lối canh tác mới, hình thức chăn nuôi mới, đó là những tri thức KHKT bước đấu được người dân tiếp nhận, Đổi với xu hướng đa dạng hoá ngành nghề trong hoạt động sản xuất, là một trong những xu hướng quan trọng của quá trình CNH, HĐH của vùng núi TTB hiện nay. Đối với xu hướng này, gẩn như toàn bộ các nguổn nhân lực trong độ tuổi lao động đều tham gia. Nếu như trước đây, người dân chủ yếu làm kinh tế nương rẫy, săn bắt, đánh cá, hái lượm và đan lát, đệt vải để phục vụ cho kinh tế tự cung tự cấp của mình thì hiện nay, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, tác động của các chương trình dự án, các chính sách xã hội, người dân đã chuyên biến nhận thức trong cách nghĩ, cách làm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ