Tổng quan luận án
Công trình khoa học “Ngoại giao số trong chính trị quốc tế những thập niên đầu thế kỷ XXI” được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Cương dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Thành Nam, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2026. Luận án thuộc chuyên ngành Chính trị học, mã số 9310201.01.
Về tính cấp thiết, luận án xuất phát từ sự biến chuyển của môi trường chính trị quốc tế trước sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Từ dấu mốc ngày 5 tháng 2 năm 1994 khi Thủ tướng Thụy Điển Carl Bildt và Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton trao đổi email chính thức đầu tiên, công nghệ số đã từng bước thâm nhập vào hoạt động đối ngoại. Bước sang thế kỷ XXI, sự bùng nổ của Internet và các nền tảng truyền thông xã hội (Twitter, Facebook, YouTube, Instagram, LinkedIn, Weibo) cùng các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và blockchain đã tạo ra một không gian ngoại giao mới. Các sự kiện quốc tế như cuộc chiến Nga – Ukraine và xung đột Israel – Hamas cho thấy ngoại giao số không chỉ dừng lại ở chức năng truyền thông chính sách mà tác động trực tiếp đến cục diện chính trị toàn cầu, an ninh mạng và chiến tranh thông tin. Sự cạnh tranh công nghệ giữa các nước lớn dẫn tới nguy cơ phân cực hệ sinh thái số (phương Tây với Google, Meta, Microsoft; Trung Quốc với WeChat, TikTok, Baidu; Nga với VKontakte, RuTube). Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu xuất phát từ việc các quan điểm học thuật về ngoại giao số hiện chưa có sự thống nhất; phần lớn nghiên cứu tập trung vào các nước phát triển phương Tây, thiếu sự phân tích toàn diện dưới góc độ chính trị học và quan hệ quốc tế, đặc biệt là đặt trong bối cảnh tác động của đại dịch COVID-19 và góc nhìn của các quốc gia đang phát triển hoặc các quốc gia nhỏ và tầm trung như Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của tác giả là làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của ngoại giao số trong chính trị quốc tế những thập niên đầu thế kỷ XXI trên thế giới và tại Việt Nam; phân tích tác động tương tác của ngoại giao số đến chính trị quốc tế; từ đó rút ra các xu hướng vận động và hàm ý chính sách cho Việt Nam. Để đạt được mục đích này, tác giả đặt ra bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn cơ bản về ngoại giao số và chính trị quốc tế, đồng thời xem xét quan hệ của ngoại giao và ngoại giao số trong hệ thống chính trị quốc tế.
- Nghiên cứu thực tiễn triển khai ngoại giao số ở một số quốc gia tại các khu vực địa lý và một số cơ chế đa phương thuộc hệ thống chính trị quốc tế.
- Đánh giá tác động của ngoại giao số đến các chiều cạnh của chính trị quốc tế, phân tích các mặt tích cực và hạn chế, từ đó xác định cơ hội, thách thức và dự báo xu hướng vận động của ngoại giao số.
- Phân tích nhận thức và thực trạng triển khai ngoại giao số tại Việt Nam; đề xuất các giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và kiểm soát rủi ro của ngoại giao số đối với Việt Nam.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm ba câu hỏi được cấu trúc theo trật tự logic:
- Ngoại giao số là gì và có những đặc trưng gì khác biệt so với ngoại giao truyền thống trong chính trị quốc tế những thập niên đầu thế kỷ XXI?
- Ngoại giao số đã hình thành và phát triển như thế nào thông qua việc các chủ thể chính trị quốc tế vận hành với mục tiêu và chiến lược của họ trong chính trị quốc tế?
- Ngoại giao số đã và đang tác động như thế nào đến các chiều cạnh của chính trị quốc tế những thập niên đầu thế kỷ XXI?
Đối tượng nghiên cứu là ngoại giao số và quan hệ giữa ngoại giao số với chính trị quốc tế. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba chiều kích:
- Phạm vi thời gian: Tập trung từ những năm đầu thập niên 2000 (thời điểm xuất hiện thuật ngữ tiền thân "e-diplomacy" và sự ra đời của mạng xã hội) đến năm 2025 (giai đoạn hậu đại dịch COVID-19, gắn liền với ba làn sóng ngoại giao số: Web 2.0 và mạng xã hội giai đoạn 2008–2012; dữ liệu lớn và AI giai đoạn 2013–2020; AI tạo sinh và phân mảnh địa chính trị số từ năm 2021 đến nay). Năm 2025 cũng là mốc thời gian thể chế hóa của Việt Nam với Nghị quyết số 292/NQ-CP và Quyết định số 4818/QĐ-BNG ngày 31/12/2025 của Bộ Ngoại giao ban hành Khung kiến trúc số Bộ Ngoại giao.
- Phạm vi không gian: Khảo sát theo các khu vực địa lý gồm Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Á, Châu Phi và các thể chế đa phương toàn cầu, khu vực.
- Chủ thể nghiên cứu: Tập trung vào hai chủ thể cốt lõi là quốc gia và tổ chức quốc tế liên chính phủ (LHQ, ASEAN). Lý do tập trung vào hai chủ thể này là vì quốc gia nắm độc quyền chủ quyền, kiểm soát hạ tầng pháp lý (Luật An ninh mạng của Việt Nam, GDPR của EU, Great Firewall của Trung Quốc), hạ tầng kỹ thuật (mạng 5G, cáp quang biển); còn tổ chức quốc tế là diễn đàn đa phương thực thi ngoại giao tập thể và thiết lập quy tắc toàn cầu. Các chủ thể phi nhà nước (MNCs như Google, Meta; NGOs; cá nhân) được tiếp cận như các nhân tố hỗ trợ hoặc tác nhân phụ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn nhóm chính:
Nhóm thứ nhất bao gồm các nghiên cứu lý luận về chính trị quốc tế và ngoại giao. Về mặt kinh điển, tác giả điểm lại công trình Politics Among Nations: The Struggle for Power and Peace của Hans Morgenthau (1948) đặt nền tảng cho Chủ nghĩa Hiện thực với luận điểm chính trị quốc tế là cuộc đấu tranh giành quyền lực; tác phẩm Theory of International Politics của Kenneth Waltz (1979) thiết lập nền tảng Chủ nghĩa Tân hiện thực, giải thích hành vi quốc gia qua cấu trúc hệ thống vô chính phủ. Các công trình hiện đại tiếp tục phân tích sự biến chuyển quyền lực như International Politics: States, Power and Conflict since 1945 (G. Berridge, 2013), International Politics: Concepts, Theories and Issues (Rumki Basu, 2012), The Globalization of World Politics (Baylis, Smith, & Owens, 2020), International organizations (Archer, 1992), và nghiên cứu về tác nhân phi nhà nước của Weiss (2013). Về ngoại giao, tác giả trích dẫn Understanding International Diplomacy (Corneliu Bjola & Markus Kornprobst, 2013), The Networked State and the End of 20th Century Diplomacy (Owen, 2016), Agency Change: Diplomatic Action beyond the State (Kelley, 2014), và công trình Diplomacy and the Making of World Politics (Ole Jacob Sending, Vincent Pouliot, Iver B. Neumann, 2015). Tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu này bao gồm giáo trình Chính trị quốc tế hiện đại (Học viện Ngoại giao, 2018), Ngoại giao: Lý luận và Thực tiễn (Dương Văn Quảng chủ biên, 2021), Chủ nghĩa đa phương trên thế giới và đối ngoại đa phương của Việt Nam (Đặng Đình Quý chủ biên, 2019), Hoạt động đối ngoại của Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI (Nguyễn Thị Quế & Nguyễn Thị Thúy, 2021), Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam (1945-2020) (Vũ Dương Ninh, 2021), cùng các nghiên cứu về ngoại giao chuyên biệt và quốc gia tầm trung của Anders Wivel (2023), Đỗ Thị Thủy (2021), Vũ Lê Thái Hoàng (2020).
Nhóm thứ hai gồm các nghiên cứu về ngoại giao số. Các công trình ban đầu xuất hiện từ cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI như Public Diplomacy in the Computer Age (Allen Hansen, 1989), Cyber-Diplomacy – Managing Foreign Policy in the Twenty-First Century (Evan H. Potter, 2002). Trong giai đoạn tiếp theo, các công trình phát triển mạnh với Diplomacy Development and Security in the Information Age (Shanthi Kalathil, 2013), Diplomacy in the Digital Age (Corneliu Bjola, 2018), Digital diplomacy (Lewis, 2014), Digital Diplomacy: Theory and Practice (Corneliu Bjola & Marcus Holmes, 2015), The Benefits and Risks of Digital Diplomacy (Viona Rashica, 2018), Digital Diplomacy: Conversations on Innovation in Foreign Policy (Sandre, 2015), và các công trình của Ilan Manor (2016, 2017, 2019) về ngoại giao công chúng số và ngoại giao di cư. Các phân tích so sánh mạng xã hội có công trình của Konit Kampf, Ilan Manor, Elad Segev (2015). Tại Việt Nam, tài liệu về ngoại giao số xuất hiện chủ yếu từ thời kỳ dịch bệnh COVID-19, gồm công trình của Vũ Lê Thái Hoàng & Nguyễn Đức Huy (2020), sách chuyên khảo Ngoại giao số: Lý luận và thực tiễn (Lê Đình Tĩnh chủ biên, 2021), nghiên cứu của Nguyễn Thành Trung & Nguyễn Như Quỳnh (2022), cùng bài viết của Nguyễn Việt Lâm & Lê Trung Kiên (2021), Nguyễn Hùng Sơn (2021), Hoài Sơn (2021).
Nhóm thứ ba xem xét quan hệ giữa ngoại giao số và chính trị quốc tế. Luận án trích xuất bài viết Digital Diplomacy: The Impact of the Internet on International Relations của Nicholas Westcott (2008), tác phẩm của Adesina (2017), và The Oxford Handbook of Digital Diplomacy (Corneliu Bjola & Ilan Manor chủ biên, 2024). Các nghiên cứu này chỉ ra ba lập luận: công nghệ số khuếch đại các tiếng nói và làm xói mòn độc quyền thông tin của chính phủ; đẩy nhanh tốc độ truyền tải thông tin trong xử lý khủng hoảng; và tối ưu hóa chi phí cung cấp dịch vụ ngoại giao.
Nhóm thứ tư phản ánh thực tiễn ngoại giao số qua các trường hợp cụ thể: nghiên cứu về Hoa Kỳ của Wilson Dizard Jr. (2001) và Manor (2015); nghiên cứu về Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc (DFAT) của Fergus Hanson (2012); mô hình quản trị điện tử xuyên biên giới X-Road của Estonia (Hardy, 2024); phân tích chuyển đổi số của Hy Lạp qua nền tảng Twitter/X giai đoạn 2021–2022 (Péter Kacziba, Sára Gibárti, & Zoltán Lechner, 2025); thách thức ngoại giao số tại UAE (Al-Mualla, 2021); cuộc chiến thông tin Nga – Ukraine (Türker Elitaş, 2022); quan hệ Nga – EU (Surma, 2022); chiến lược ngoại giao số trên Weibo và Twitter của Trung Quốc trong xung đột thương mại với Mỹ (Zhao Alexandre Huang & Rui Wang, 2021); trường hợp Tổng thống Bukele tại El Salvador (Kevin Parthenay, 2024); hoạt động của khối BRICS; và nghiên cứu về ngoại giao không gian mạng của nhóm tác giả Việt Nam gồm Hà Anh Tuấn, Trần Anh Khôi, Vũ Hải Hoàng (2025).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định gồm:
- Thiếu một định nghĩa thống nhất và cập nhật về ngoại giao số dưới lăng kính khoa học chính trị và quan hệ quốc tế.
- Chưa có khung lý thuyết phân tích quan hệ tương tác giữa ngoại giao số với cấu trúc quyền lực và cạnh tranh địa chính trị trong hệ thống quốc tế.
- Thiếu nghiên cứu tổng hợp, so sánh mang tính hệ thống thực tiễn ngoại giao số giữa hai giai đoạn trước và sau đại dịch COVID-19.
- Các công trình quốc tế chủ yếu tập trung vào các nước phát triển, bỏ trống việc nghiên cứu ngoại giao số như một loại hình ngoại giao chuyên biệt dành cho các quốc gia nhỏ, tầm trung và các nước đang phát triển như Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng hệ thống khái niệm và khung phân tích dựa trên sự giao thoa của lý luận quan hệ quốc tế, quyền lực mềm và ngoại giao chuyên ngành:
- Khái niệm ngoại giao: Luận án áp dụng định nghĩa tổng hợp từ công trình của Dương Văn Quảng (2021): ngoại giao là phương thức hoạt động quốc tế nhằm thực thi chính sách đối ngoại vì lợi ích quốc gia – dân tộc trong một tổng thể tùy thuộc lẫn nhau. Đồng thời, viện dẫn Adesina (2017) xác định ngoại giao là công cụ chính sách đối ngoại phi bạo lực.
- Các phân loại ngoại giao liên quan: Luận án làm rõ ngoại giao truyền thống với ba chức năng kinh điển (đại diện, giao tiếp, đàm phán giải quyết xung đột theo Magalhaes, 1988); ngoại giao công chúng (theo định nghĩa năm 1987 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, trích bởi Lê Thị Thu Hằng, 2019, và khái niệm của Hayden, 2018) gồm bốn phương thức: quản lý thông tin, truyền thông chiến lược, giao lưu trực tiếp và ngoại giao số; ngoại giao chuyên ngành (specialized diplomacy) theo cách tiếp cận của Lise H. Andersen về việc xây dựng chuyên môn sâu mang tính bối cảnh.
- Khái niệm chính trị quốc tế: Được xác định là quá trình tương tác cạnh tranh và hợp tác chiến lược giữa các chủ thể nhằm bảo vệ lợi ích trong môi trường vô chính phủ (tổng hợp từ Morgenthau, 1948; Hedley Bull, 1977; Baylis và cộng sự, 2020; Học viện Ngoại giao, 2020).
- Khái niệm chủ thể chính trị quốc tế: Kế thừa tiêu chí của Colin Warbrick (1991) gồm ba tiêu chuẩn (năng lực hành động độc lập, khả năng tạo lập quyền và nghĩa vụ pháp lý, năng lực tham gia quá trình chính trị), phân loại của Arnold Wolfers (1962), Peter Willetts (2010), và tiêu chí về tổ chức quốc tế của Clive Archer (1992).
- Khung lý thuyết phân tích: Luận án kết hợp ba trường phái quan hệ quốc tế:
- Chủ nghĩa Hiện thực (Morgenthau, Waltz): Giải thích cạnh tranh không gian số, an ninh mạng, chiến tranh thông tin và sự kiểm soát hạ tầng như công cụ duy trì quyền lực nhà nước.
- Chủ nghĩa Tự do (Keohane & Nye, 2011): Giải thích hợp tác số, sự phụ thuộc lẫn nhau phức hợp và vai trò của các thể chế đa phương trong xây dựng chuẩn mực kỹ thuật số.
- Chủ nghĩa Kiến tạo (Alexander Wendt, 1999): Giải thích việc kiến tạo bản sắc, định hình hình ảnh quốc gia và quyền lực biểu tượng thông qua các chiến dịch diễn ngôn trên mạng xã hội.
- Kết hợp lý luận về quyền lực mềm và lý thuyết ngoại giao chuyên biệt để luận giải vị thế của các quốc gia nhỏ và tầm trung.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng cách tiếp cận liên ngành (chính trị học, quan hệ quốc tế, truyền thông, công nghệ thông tin) cùng hệ thống phương pháp nghiên cứu khoa học:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp và phân tích diễn ngôn học thuật: Sử dụng trong Chương 1 và Chương 2 để hệ thống hóa văn bản, làm rõ nội hàm khái niệm và khung lý thuyết.
- Phương pháp lịch sử – logic: Khảo sát quá trình tiến hóa của ngoại giao số từ thập niên 2000 đến năm 2025 gắn với ba làn sóng công nghệ.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Lựa chọn các chủ thể điển hình theo các tiêu chí (tính đại diện, tính cập nhật, tính học thuật, tính đa chiều).
- Thiết kế hệ thống dị biệt (Most Different Systems Design): Kết hợp phân tích lịch đại theo giai đoạn, chọn các trường hợp nghiên cứu khác nhau cho mỗi giai đoạn (trước và sau đại dịch COVID-19) để tăng tính khái quát hóa và nắm bắt bản chất từng thời kỳ mà không bị phụ thuộc vào tính cá biệt của một quốc gia.
- Phương pháp phân tích chính sách và phân tích dữ liệu thứ cấp: Khai thác dữ liệu từ các bộ chỉ số quốc tế gồm Digital Diplomacy Index, Twiplomacy, Global Soft Power Index.
- Phương pháp so sánh và phương pháp dự báo: Đánh giá thực trạng ngoại giao số Việt Nam và dự báo xu hướng tương tác quốc tế trong kỷ nguyên số.
Nguồn tư liệu nghiên cứu bao gồm văn bản pháp lý, nghị quyết chính sách (Nghị quyết số 292/NQ-CP, Quyết định số 4818/QĐ-BNG của Việt Nam; GDPR của EU; Luật An ninh mạng), tài liệu chính thức từ LHQ, ASEAN, các bài phát biểu ngoại giao, dữ liệu mạng xã hội (Twitter/X, Weibo, Facebook) và các công trình nghiên cứu học thuật đã xuất bản.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này thực hiện tổng thuật hệ thống 4 nhóm tài liệu: lý luận chính trị quốc tế và ngoại giao; lý luận và khái niệm ngoại giao số; quan hệ tương tác giữa ngoại giao số và cấu trúc chính trị quốc tế; và thực tiễn triển khai của các chủ thể quốc gia, quốc tế. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra các điểm đồng thuận trong giới học thuật (thừa nhận ngoại giao số là công cụ quyền lực mềm và kênh giao tiếp chiến lược) và xác định bốn khoảng trống nghiên cứu chính về khái niệm, khung lý thuyết chính trị học, so sánh giai đoạn trước - sau dịch bệnh COVID-19, và cách tiếp cận từ các quốc gia tầm trung, đang phát triển.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của ngoại giao số trong chính trị quốc tế
Chương 2 thiết lập nền tảng lý thuyết và thực tiễn cho luận án. Tác giả phân tích nội hàm các khái niệm: ngoại giao, ngoại giao truyền thống, ngoại giao công chúng, ngoại giao chuyên ngành và chính trị quốc tế. Luận án phân tích tiêu chí xác định chủ thể, luận chứng lý do lựa chọn quốc gia và tổ chức quốc tế làm hai chủ thể trung tâm dựa trên nguyên tắc chủ quyền Westphalia. Tiếp đó, chương khảo sát sự ra đời của ngoại giao số, chỉ ra đặc điểm của chính trị quốc tế đầu thế kỷ XXI với sự phân tán quyền lực và chuyển dịch sang môi trường mạng. Tác giả luận giải ngoại giao số dưới hai lăng kính lý luận: công cụ triển khai quyền lực mềm của các chủ thể quốc tế, và hình thức ngoại giao chuyên biệt (specialized diplomacy) của các quốc gia nhỏ và tầm trung nhằm tối ưu hóa nguồn lực và tạo vị thế đối ngoại. Cuối chương là khung phân tích tích hợp ba lý thuyết Hiện thực, Tự do, Kiến tạo.
| Làn sóng ngoại giao số |
Giai đoạn |
Đặc trưng công nghệ |
Trọng tâm hoạt động |
| Làn sóng thứ nhất |
2008 – 2012 |
Web 2.0, Mạng xã hội sơ khai (Twitter, Facebook) |
Ngoại giao công chúng, truyền tải thông điệp một chiều sang tương tác ban đầu |
| Làn sóng thứ hai |
2013 – 2020 |
Dữ liệu lớn (Big Data), AI thế hệ đầu |
Phân tích dữ liệu dư luận, quản lý khủng hoảng, ngoại giao số chuyên biệt |
| Làn sóng thứ ba |
2021 – nay |
AI tạo sinh, Phân mảnh không gian số địa chính trị |
Cạnh tranh chủ quyền số, thuật toán, an ninh mạng, chống thông tin sai lệch |
Chương 3: Thực tiễn ngoại giao số trong chính trị quốc tế những thập niên đầu thế kỷ XXI
Chương 3 trình bày bức tranh thực nghiệm thông qua phương pháp nghiên cứu trường hợp và thiết kế hệ thống dị biệt qua hai giai đoạn:
| Giai đoạn khảo sát |
Nhóm chủ thể nghiên cứu |
Các trường hợp điển hình |
Đặc điểm thực tiễn nổi bật |
| Trước Đại dịch COVID-19 |
- Nước lớn / Cường quốc - Nước tiên phong |
Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên bang Nga, Anh, Đan Mạch, Pháp, Ấn Độ, Israel |
- Thiết lập các bộ phận ngoại giao điện tử (e-diplomacy) - Sử dụng mạng xã hội định hình dư luận quốc tế - Thử nghiệm dịch vụ công số xuyên biên giới (Estonia) |
| Từ năm 2020 đến nay |
- Thực thể siêu quốc gia - Quốc gia tầm trung truyền thống - Quốc gia tầm trung mới nổi |
- Liên minh châu Âu (EU) - Hàn Quốc - Indonesia, Nam Phi |
- Thể chế hóa chính sách đối ngoại số thống nhất - Thúc đẩy ngoại giao y tế số, ngoại giao công nghệ - Vận dụng ngoại giao số như công cụ thu hẹp khoảng cách quyền lực |
| Đa phương (Xuyên suốt) |
Tổ chức quốc tế liên chính phủ |
Liên Hợp Quốc (LHQ), ASEAN |
- Thiết lập chuẩn mực không gian mạng, quản trị toàn cầu - Chiến lược Hợp tác An ninh mạng ASEAN (CCS), số hóa hội nghị đa phương |
Chương 4: Tác động và xu hướng của ngoại giao số trong chính trị quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
Chương 4 đánh giá tác động hai chiều giữa ngoại giao số và chính trị quốc tế: tác động làm biến đổi cách thức hoạt động của các chủ thể, làm phức tạp hóa cấu trúc quyền lực (sự xuất hiện của các công ty công nghệ lớn kiểm soát nền tảng), thay đổi tính chất tương tác ngoại giao (từ bí mật, chậm rãi sang tức thời, công khai và tương tác đa chiều), và tái định hình quy trình hoạch định chính sách đối ngoại. Luận án phân tích tính hai mặt của ngoại giao số: mặt tích cực (tăng tốc độ xử lý, tiết kiệm chi phí, mở rộng đối thoại) và hạn chế (nguy cơ tin giả, phân cực chính trị, lộ lọt dữ liệu, phụ thuộc hạ tầng kỹ thuật của bên thứ ba).
Đối với Việt Nam, luận án khảo sát nhận thức và thực trạng triển khai, ghi nhận sự phát triển qua các văn kiện pháp lý đến năm 2025 (Nghị quyết 292/NQ-CP và Quyết định 4818/QĐ-BNG). Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp: hoàn thiện khung khổ thể chế và quy chế vận hành ngoại giao số; đầu tư hạ tầng công nghệ bảo đảm chủ quyền số; đào tạo nguồn nhân lực ngoại giao thành thạo kỹ năng số và dữ liệu; triển khai ngoại giao số như một mũi nhọn ngoại giao chuyên biệt của quốc gia tầm trung; và tích cực tham gia định hình chuẩn mực quản trị mạng tại các diễn đàn khu vực và toàn cầu như ASEAN và LHQ.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt khoa học và lý luận, luận án đạt được các kết quả sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ khái niệm ngoại giao số trong hệ thống lý luận chính trị học và quan hệ quốc tế, giải quyết tình trạng thiếu đồng thuận về mặt thuật ngữ trong các nghiên cứu trước đây.
- Xác định và kiểm chứng khung phân tích kết hợp giữa ba học thuyết quan hệ quốc tế (Hiện thực, Tự do, Kiến tạo) với lý thuyết quyền lực mềm và ngoại giao chuyên biệt. Luận án chứng minh rằng đối với các cường quốc, ngoại giao số vận hành như một công cụ ngoại giao chuyên ngành mở rộng; trong khi đối với các quốc gia nhỏ và tầm trung, ngoại giao số là phương thức ngoại giao chuyên biệt giúp gia tăng ảnh hưởng và bù đắp các hạn chế về quy mô quyền lực cứng.
Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các đóng góp:
- Tái hiện quá trình hình thành và phát triển của ngoại giao số qua ba làn sóng công nghệ, cung cấp dữ liệu thực nghiệm so sánh đa dạng giữa các khu vực địa lý và hai giai đoạn trước – sau đại dịch COVID-19.
- Đánh giá tác động đa chiều của không gian số tới cấu trúc quyền lực toàn cầu và nhận diện các nguy cơ an ninh thông tin, chiến tranh mạng.
- Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn phục vụ công tác hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam trong kỷ nguyên chuyển đổi số, hỗ trợ việc triển khai các văn bản thể chế hóa đối ngoại số (như Khung kiến trúc số Bộ Ngoại giao ban hành cuối năm 2025).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định rõ giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Công trình chủ yếu tập trung vào hai chủ thể truyền thống là quốc gia có chủ quyền và tổ chức quốc tế liên chính phủ; chưa đi sâu phân tích độc lập toàn diện vai trò của các tập đoàn công nghệ xuyên quốc gia và các mạng lưới xã hội dân sự phi chính thức ngoài tư cách là các nhân tố hỗ trợ.
- Do áp dụng thiết kế hệ thống dị biệt theo từng giai đoạn, luận án chọn các trường hợp điển hình đại diện cho mỗi thời kỳ thay vì theo dõi một trường hợp duy nhất xuyên suốt chiều dài lịch sử, dẫn đến hạn chế nhất định trong việc so sánh dọc tính liên tục của một quốc gia cụ thể.
- Phạm vi tư liệu thực tiễn và chỉ số thứ cấp dừng lại ở mốc thời gian năm 2025.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ văn bản bao gồm việc tiếp tục cập nhật và đánh giá thực tiễn ngoại giao số dưới tác động sâu rộng của AI tạo sinh sau năm 2025; mở rộng nghiên cứu sang cơ chế điều phối và tương tác giữa nhà nước với các tập đoàn công nghệ lớn (Big Tech) trong quản trị chủ quyền số quốc gia; và nghiên cứu chuyên sâu về mô hình ngoại giao số đa phương trong khuôn khổ các cơ chế liên kết khu vực mới nổi.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị đối với các nhóm đối tượng:
- Các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Chính trị học, Quan hệ quốc tế, Ngoại giao và Truyền thông quốc tế; có thể sử dụng khung lý thuyết và hệ thống tư liệu của luận án để phục vụ nghiên cứu và giảng dạy về các loại hình ngoại giao đương đại.
- Các cơ quan tham mưu chính sách, cán bộ làm công tác đối ngoại và ngoại giao (đặc biệt là Bộ Ngoại giao Việt Nam); luận án cung cấp căn cứ thực tiễn và bài học kinh nghiệm quốc tế phục vụ triển khai Khung kiến trúc số và chiến lược ngoại giao số quốc gia.
- Cán bộ quản lý an ninh thông tin và truyền thông đối ngoại; giúp nhận diện các thách thức về chiến tranh thông tin, an ninh mạng và quản trị dữ liệu đối ngoại trong bối cảnh phân mảnh địa chính trị số.
Câu hỏi thường gặp
1. Mốc thời gian nào đánh dấu sự xuất hiện chính thức của email ngoại giao và thuật ngữ "ngoại giao điện tử" (e-diplomacy)?
Theo văn bản, ngày 5/2/1994, email trao đổi chính thức đầu tiên giữa Thủ tướng Thụy Điển Carl Bildt và Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton được xem là dấu mốc đầu tiên sử dụng kỹ thuật số làm công cụ ngoại giao của nguyên thủ quốc gia. Đến năm 2002, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thành lập Nhóm đặc nhiệm về Ngoại giao điện tử, đánh dấu lần đầu tiên thuật ngữ "e-diplomacy" được đưa vào sử dụng chính thức.
2. Luận án chia quá trình phát triển của ngoại giao số thành những làn sóng nào?
Văn bản xác định ba làn sóng ngoại giao số: làn sóng thứ nhất gắn với Web 2.0 và mạng xã hội (giai đoạn 2008 – 2012); làn sóng thứ hai gắn với dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo thế hệ đầu (giai đoạn 2013 – 2020); và làn sóng thứ ba gắn với trí tuệ nhân tạo tạo sinh cùng sự phân mảnh không gian số địa chính trị (từ năm 2021 đến nay).
3. Vì sao luận án ưu tiên tập trung nghiên cứu hai chủ thể là quốc gia và tổ chức quốc tế?
Luận án xác định quốc gia là chủ thể nắm độc quyền chủ quyền, nguồn lực, trách nhiệm xây dựng chính sách đối ngoại, ban hành luật pháp (như Luật An ninh mạng, GDPR, Great Firewall) và kiểm soát hạ tầng mạng (5G, cáp quang biển). Tổ chức quốc tế là diễn đàn đa phương thực thi ngoại giao tập thể và thiết lập chuẩn mực chung cho không gian mạng. Do ngoại giao số không làm thay đổi bản chất hệ thống Westphalia, việc tập trung vào hai chủ thể này đảm bảo tính mạch lạc lý thuyết và khả năng khái quát hóa cao.
4. Khái niệm ngoại giao số được định vị ra sao đối với các quốc gia nhỏ và tầm trung?
Đối với các quốc gia nhỏ và tầm trung, ngoại giao số được xem xét dưới tư cách là một hình thức ngoại giao chuyên biệt (specialized diplomacy). Đây là công cụ giúp các quốc gia này tối ưu hóa chi phí, phát huy quyền lực mềm, tạo dựng vị thế đặc thù và tham gia hiệu quả vào các tiến trình nghị sự quốc tế mà không bị lệ thuộc hoàn toàn vào tiềm lực quy mô hay sức mạnh quân sự truyền thống.
5. Các văn kiện pháp lý nào của Việt Nam được ghi nhận là dấu mốc thể chế hóa ngoại giao số vào năm 2025?
Văn bản luận án nêu rõ hai dấu mốc pháp lý quan trọng của Việt Nam trong năm 2025: lần đầu tiên "ngoại giao số" được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 292/NQ-CP của Chính phủ; và ngày 31/12/2025, Bộ Ngoại giao ban hành Quyết định số 4818/QĐ-BNG về việc ban hành Khung kiến trúc số Bộ Ngoại giao.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Cương là công trình nghiên cứu hệ thống về ngoại giao số trong bối cảnh chính trị quốc tế từ đầu thế kỷ XXI đến năm 2025. Bằng cách tiếp cận liên ngành và kết hợp ba trường phái Hiện thực, Tự do, Kiến tạo, luận án đã làm rõ sự chuyển đổi của phương thức ngoại giao từ công cụ truyền thông thành phương tiện thực thi quyền lực mềm và ngoại giao chuyên biệt. Các phân tích thực nghiệm đa dạng trước và sau đại dịch COVID-19 đã chứng minh tính tất yếu của ngoại giao số đối với cả cường quốc lẫn các quốc gia tầm trung. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận và các khuyến nghị chính sách phục vụ tiến trình chuyển đổi số ngành ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.