Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Du lịch (mã số: 9810101.01) của nghiên cứu sinh Nguyễn Nguyên Phong, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2026 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Hoài Sơn và PGS. Đỗ Hải Yến, mang tiêu đề: "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phục hồi điểm đến Bến Tre".
Về mặt lý luận, luận án đặt vấn đề trong bối cảnh ngành du lịch chịu nhiều rủi ro từ các biến động môi trường, xã hội và kinh tế. Khái niệm khả năng phục hồi điểm đến (destination resilience - DR) được tiếp cận như một hệ thống sinh thái – xã hội (SES) phức hợp, chuyển dịch từ tư duy "bật trở lại" (bounce back) trạng thái ban đầu sang "bật lên phía trước" (bounce forward) thông qua sự thích ứng và tái cấu trúc (Bruneau và cộng sự, 2003; Folke, 2006; Hall và cộng sự, 2018). Điểm xuất phát của nghiên cứu là sự tồn tại của hai khoảng trống lý thuyết: thứ nhất, các mô hình phục hồi hiện tại phần lớn thiên lệch về Phía Cung du lịch (tài nguyên, hạ tầng, doanh nghiệp, cơ quan quản lý), bỏ ngỏ vai trò đồng kiến tạo của Phía Cầu, trong đó khả năng điều chỉnh hành vi và sự trung thành của khách du lịch (Tourist resilience - ToR) chưa được nhìn nhận như một nguồn vốn hữu cơ; thứ hai, biến số rủi ro thường chỉ được coi là bối cảnh chung, thiếu kiểm định thực chứng xem mức độ phơi nhiễm rủi ro (Risk Exposure - RE) có làm suy giảm năng lực thích ứng nội sinh của điểm đến hay không. Từ đó, vấn đề nghiên cứu được xác định không nằm ở khối lượng nguồn lực sẵn có, mà ở khoảng cách giữa nguồn lực và cơ chế chuyển hóa nguồn lực thành năng lực thích ứng (Adaptive Capacity - AC) rồi thành khả năng phục hồi. Về mặt thực tiễn, Bến Tre là điểm đến sinh thái – nông nghiệp đặc thù của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), chịu tác động đồng thời của "cú sốc kép" gồm biến đổi khí hậu (đặc biệt là hạn mặn) và đại dịch COVID-19. Dù nguồn lực tài chính và hạ tầng vật chất hạn chế, điểm đến này sở hữu nền tảng vốn xã hội cộng đồng bền bỉ, đặt ra yêu cầu kiểm định cơ chế phục hồi nội sinh.
Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng và kiểm định mô hình các yếu tố tác động đến khả năng phục hồi của điểm đến Bến Tre dựa trên lăng kính hệ thống sinh thái - xã hội, cung cấp bằng chứng thực nghiệm để gợi mở hàm ý quản trị, hỗ trợ điểm đến gia tăng năng lực thích ứng trước rủi ro.
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 4 nội dung:
- Hệ thống hóa lý thuyết về điểm đến du lịch, quản trị đa trung tâm và khả năng phục hồi trong bối cảnh hệ thống sinh thái - xã hội.
- Xây dựng và tinh chỉnh bộ thang đo đo lường các nhóm yếu tố cấu thành sức mạnh phục hồi của điểm đến phù hợp với bối cảnh Bến Tre.
- Kiểm định định lượng cơ chế chuyển hóa nguồn lực thành khả năng phục hồi điểm đến qua hai mô hình thực nghiệm thành phần: mô hình Phía Cung đánh giá tác động của các nguồn vốn sinh thái, xã hội và quản trị đa trung tâm đến năng lực thích ứng; mô hình Phía Cầu đánh giá tác động của khả năng phục hồi khách du lịch đến năng lực thích ứng. Cả hai mô hình cùng kiểm định quan hệ giữa năng lực thích ứng, mức độ phơi nhiễm rủi ro và khả năng phục hồi điểm đến được cảm nhận, đồng thời đối chiếu để rút ra kết luận chung.
- Thảo luận kết quả và đề xuất các hàm ý quản trị phù hợp với giới hạn của dữ liệu.
Câu hỏi nghiên cứu gồm 4 câu hỏi:
- Bản chất và cơ chế phục hồi của điểm đến du lịch được hiểu như thế nào dưới lăng kính hệ thống sinh thái - xã hội?
- Từ góc nhìn Phía Cung, các nguồn vốn sinh thái, xã hội (vốn kinh tế, vốn xã hội - con người, vốn môi trường, vốn thể chế, vốn hạ tầng) và quản trị đa trung tâm tác động đến năng lực thích ứng và khả năng phục hồi điểm đến Bến Tre được cảm nhận như thế nào?
- Từ góc nhìn Phía Cầu, khả năng phục hồi của khách du lịch tác động đến năng lực thích ứng và khả năng phục hồi điểm đến Bến Tre được cảm nhận như thế nào? Kết quả từ hai góc nhìn Phía Cung và Phía Cầu bổ sung cho nhau ở những điểm nào?
- Từ kết quả thực nghiệm, những hàm ý chính sách và giải pháp quản trị nào có thể đề xuất để nâng cao khả năng phục hồi điểm đến Bến Tre?
Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phục hồi của điểm đến du lịch.
Khách thể nghiên cứu: Hệ sinh thái điểm đến gồm hai nhóm: Phía Cung (doanh nghiệp du lịch, cơ quan quản lý, cộng đồng địa phương) và Phía Cầu (khách du lịch).
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Giới hạn tại tỉnh Bến Tre theo địa giới hành chính trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 (thời điểm hợp nhất với tỉnh Trà Vinh và tỉnh Vĩnh Long thành tỉnh Vĩnh Long mới và vận hành chính quyền hai cấp). Địa bàn khảo sát trọng điểm gồm thành phố Bến Tre và các huyện Châu Thành, Chợ Lách, Ba Tri, Thạnh Phú. Các gợi mở cho tỉnh Vĩnh Long mới chỉ mang tính phương pháp luận và nguyên tắc quản trị, không phải kết luận ngoại suy trực tiếp.
- Thời gian: Dữ liệu thứ cấp gồm chuỗi số liệu du lịch và xâm nhập mặn giai đoạn 2015–2024, các báo cáo tổng kết ngành đến năm 2025, bao phủ ba phân kỳ: tăng trưởng trước 2019, đứt gãy 2020–2021 (COVID-19 và hạn mặn 2019–2020), và phục hồi 2022–2024. Dữ liệu sơ cấp định tính thu thập vào tháng 3/2024; khảo sát định lượng sơ bộ (125 mẫu) thực hiện tháng 8/2024; khảo sát định lượng chính thức (450 mẫu) hoàn thành từ tháng 9/2024 đến tháng 6/2025.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án bắt đầu bằng việc hệ thống hóa các hướng tiếp cận quản trị điểm đến hiện đại, nhận diện sự dịch chuyển qua bốn mô hình chính:
| Hướng tiếp cận |
Trọng tâm |
Đại diện học giả |
Liên hệ với khả năng phục hồi |
| Tiếp cận kinh tế - thị trường |
Quản trị cung cầu, năng lực cạnh tranh, định vị thương hiệu |
Dwyer và cộng sự (2010); Ritchie & Crouch (2003) |
Tập trung vào “hiệu suất thị trường” thay vì thích ứng |
| Tiếp cận quản trị đa tác nhân |
Liên kết các bên: nhà nước – doanh nghiệp – cộng đồng – du khách |
Beritelli (2011); Pike & Page (2014b) |
Cơ sở cho quản trị đa trung tâm trong phục hồi |
| Tiếp cận du lịch bền vững |
Cân bằng giữa phát triển và bảo tồn, đo lường qua chỉ số SDG |
Bramwell & Lane (2011); Saarinen (2013) |
Tạo tiền đề cho khả năng phục hồi nhưng thiên về trạng thái cân bằng tĩnh thay vì động lực học thích nghi |
| Tiếp cận du lịch thông minh |
Sử dụng công nghệ, dữ liệu và hạ tầng số để ra quyết định |
Aguirre và cộng sự (2023); Gretzel và cộng sự (2015); Sharma (2025) |
Liên kết trực tiếp với khả năng phục hồi qua dữ liệu, dự báo và phản ứng nhanh |
Để đánh giá tình hình nghiên cứu quốc tế, tác giả áp dụng phân tích trắc lượng thư mục (Bibliometrics) thông qua phần mềm VOSviewer (phiên bản 1.20) trên cơ sở dữ liệu Scopus giai đoạn 2010 đến đầu năm 2025. Sử dụng cú pháp logic (TOURISM AND RESILIENCE) OR (DESTINATION AND RESILIENCE), sau quá trình sàng lọc 4 bước theo tiêu chuẩn của Linnenluecke và cộng sự (2020) cùng Zupic và Čater (2015), tập dữ liệu gồm 370 công trình học thuật hợp lệ được đưa vào phân tích ma trận đồng xuất hiện từ khóa. Bản đồ mạng lưới tri thức xác định 6 cụm chủ đề chính:
- Khủng hoảng và phục hồi du lịch (từ khóa: COVID-19, pandemic, crisis management, post-pandemic recovery).
- Phát triển và quản trị điểm đến (tourism development, tourism management, tourist destination, destination development, government).
- Phát triển bền vững và du lịch sinh thái (sustainable tourism, ecotourism, economic development).
- Cộng đồng và năng lực thích ứng địa phương (community-based tourism, local participation, community resilience).
- Hành vi khách du lịch và cảm nhận rủi ro (tourist behavior, risk perception, perception, destination image).
- Đổi mới, công nghệ và ra quyết định (decision making, investment, virtual reality, machine learning).
Về mặt lý luận, luận án phân tích sự tiến hóa khái niệm qua ba trường phái tiếp cận:
| Trường phái |
Cách hiểu khả năng phục hồi |
Đại diện |
Hạn chế khi áp dụng cho điểm đến sinh thái |
| Phục hồi kỹ thuật (4R) |
Tốc độ quay lại trạng thái cân bằng ban đầu (bounce back) qua 4 thuộc tính: Robustness, Redundancy, Resourcefulness, Rapidity |
Bruneau và cộng sự (2003); Cutter và cộng sự (2008) |
Giả định một trạng thái cân bằng duy nhất; bỏ qua học hỏi xã hội, thể chế và vốn văn hóa |
| Hệ thống sinh thái - xã hội (SES) |
Năng lực hấp thụ nhiễu loạn, tự tổ chức, học hỏi để thích nghi hoặc chuyển đổi (bounce forward) |
Holling (1973); Folke (2006); Walker và cộng sự (2004); Biggs và cộng sự (2015) |
Chủ yếu dừng ở khung phân tích định tính; ít vận hành hóa thành mô hình đo lường thực nghiệm |
| Quản trị đa trung tâm (PG) |
Kết quả của sự phối hợp, phân quyền và dự phòng giữa nhiều trung tâm ra quyết định độc lập |
Ostrom (1990, 2009, 2010); Amore và cộng sự (2018); Farsari (2023) |
Phần lớn dừng ở khung khái niệm; thiếu kiểm định định lượng về tác động cấu trúc |
Bên cạnh đó, luận án phân loại khả năng phục hồi thành ba dạng thức: phục hồi cụ thể (Specific resilience), phục hồi hệ thống (Systemic resilience - Becken, 2013) và phục hồi chuyển đổi (Transformative resilience - Ketter, 2022; Walker & Salt, 2006).
Từ tổng quan tài liệu, luận án xác định vị trí giải quyết ba khoảng trống học thuật:
- Khoảng trống 1: Các mô hình phục hồi thường quy tụ vào Phía Cung, xem nhẹ Phía Cầu. Luận án tích hợp cấu trúc Khả năng phục hồi của khách du lịch (ToR) như một nguồn lực kích hoạt năng lực thích ứng của hệ thống.
- Khoảng trống 2: Biến rủi ro (Risk Exposure - RE) thường chỉ xuất hiện như bối cảnh ngoại sinh. Luận án đưa RE vào kiểm định thực chứng dưới dạng biến điều tiết trong quan hệ giữa năng lực thích ứng và khả năng phục hồi.
- Khoảng trống 3: Khoảng cách giữa các cấp độ phân tích (tổ chức, cộng đồng, hệ thống) và nguồn dữ liệu thu thập. Thay vì gộp chung các đối tượng khảo sát vào một mẫu duy nhất dẫn tới sai lệch phương pháp chung (CMB), luận án phân tách nguồn đo lường thành hai mô hình thực nghiệm độc lập (Phía Cung và Phía Cầu).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự liên kết giữa Lý thuyết Hệ sinh thái - xã hội (SES), Lý thuyết Chu kỳ sống của điểm đến (TALC - Butler, 1980), Lý thuyết Quản trị đa trung tâm (PG - Ostrom, 2010), Lý thuyết Năng lực thích ứng (AC), Lý thuyết Khả năng phục hồi khách du lịch (ToR) và Khung Mức độ phơi nhiễm rủi ro (RE).
Hệ thống nguồn lực nội tại Phía Cung được cấu thành từ 5 nhóm nguồn vốn SES:
| Nhóm nguồn vốn (Capital) |
Nguồn tham khảo tiêu biểu |
Mô tả nội hàm |
| Vốn kinh tế (Economic Capital - EC) |
Biggs và cộng sự (2015); Solarin và cộng sự (2024); Tao & Wall (2009) |
Sức mạnh tài chính, cơ cấu ngành đa dạng, không phụ thuộc một thị trường, khả năng tiếp cận quỹ dự phòng và tái đầu tư |
| Vốn xã hội - con người (Social - Human Capital - SC) |
Chowdhury và cộng sự (2019); Prayag (2018); Prayag & Amore (2021) |
Sự gắn kết, niềm tin, mạng lưới hợp tác, chia sẻ tri thức bản địa, kỹ năng nghề nghiệp và độ linh hoạt của lao động |
| Vốn môi trường - sinh thái (Environmental Capital - EN) |
Becken (2013); Li và cộng sự (2024); Pueyo-Ros (2018) |
Chất lượng tài nguyên tự nhiên, đa dạng sinh học, sức chứa sinh thái, khả năng tự phục hồi trước biến đổi môi trường |
| Vốn thể chế - quản trị (Institutional Capital - IG) |
Hall và cộng sự (2018); Lemos & Agrawal (2006); Ostrom (2010) |
Tính rõ ràng, minh bạch của thể chế chính sách, năng lực điều phối của DMO, các kịch bản dự phòng và cơ chế hỗ trợ |
| Vốn hạ tầng - công nghệ (Infrastructure - Technological Capital - IT) |
Bethune và cộng sự (2022); Gretzel và cộng sự (2015); Lamsfus và cộng sự (2015) |
Độ bền vững của hạ tầng vật lý (giao thông, đê điều, y tế), kết nối số, du lịch thông minh và hệ thống cảnh báo sớm |
Mô hình nghiên cứu phân định rõ "Vốn thể chế" (IG - các quy tắc, chính sách sẵn có) với "Quản trị đa trung tâm" (PG - cơ chế tương tác, chia sẻ quyền lực và phối hợp đa cấp giữa nhà nước, hiệp hội và cộng đồng).
Khung phân tích vận hành qua hai mô hình thực nghiệm thành phần:
- Mô hình 1 (Phía Cung): Đánh giá tác động của 5 nhóm vốn (EC, SC, EN, IG, IT) và Quản trị đa trung tâm (PG) lên Năng lực thích ứng (AC); AC tác động đến Khả năng phục hồi điểm đến được cảm nhận (DR); Mức độ phơi nhiễm rủi ro (RE) đóng vai trò điều tiết mối quan hệ giữa AC và DR.
- Mô hình 2 (Phía Cầu): Đánh giá tác động của Khả năng phục hồi của khách du lịch (ToR) lên Năng lực thích ứng (AC); AC tác động đến Khả năng phục hồi điểm đến được cảm nhận (DR); RE điều tiết mối quan hệ giữa AC và DR.
Phương pháp nghiên cứu áp dụng thiết kế hỗn hợp (Mixed-methods) theo Creswell & Clark (2018):
- Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu bán cấu trúc 09 chuyên gia (nhà quản lý, học giả, doanh nghiệp) nhằm Việt hóa và hiệu chỉnh các thang đo theo bối cảnh xâm nhập mặn (DeVellis, 2017). Để định vị chu kỳ sống TALC, tác giả phỏng vấn sâu bổ sung 03 chuyên gia kết hợp đối chiếu dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2015–2024.
- Nghiên cứu định lượng:
- Khảo sát sơ bộ (pilot): N = 125 mẫu vào tháng 8/2024 để kiểm tra độ tin cậy sơ bộ của thang đo.
- Khảo sát chính thức: Thu thập từ tháng 9/2024 đến tháng 6/2025, đạt 450 mẫu hợp lệ. Mẫu được phân tách thành hai tệp dữ liệu độc lập: Tệp Phía Cung (N = 270, gồm cộng đồng địa phương, doanh nghiệp và nhà quản lý du lịch) và Tệp Phía Cầu (N = 180, gồm khách du lịch).
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Luận án sử dụng mô hình phương trình cấu trúc bình phương tối thiểu riêng phần (PLS-SEM) trên phần mềm SmartPLS (Hair và cộng sự, 2019, 2021). Quy trình phân tích gồm:
- Đánh giá mô hình đo lường: hệ số tải ngoài (Outer Loading), hệ số Cronbach’s Alpha (CA), độ tin cậy tổng hợp (Composite Reliability - CR), phương sai trích trung bình (Average Variance Extracted - AVE) để xác định giá trị hội tụ; tỷ lệ Heterotrait-Monotrait Ratio (HTMT) để xác định giá trị phân biệt. Kiểm định Mann–Whitney U được áp dụng để so sánh nhóm khách lần đầu và khách quay lại.
- Kiểm soát sai lệch phương pháp chung (CMB): Kiểm định đơn nhân tố tử Harman (Harman’s single-factor test) và kiểm định Full Collinearity VIF (Podsakoff và cộng sự, 2003).
- Đánh giá mô hình cấu trúc: kiểm tra đa cộng tuyến qua VIF, hệ số xác định ($R^2$), kích thước ảnh hưởng ($f^2$), năng lực dự báo ngoài mẫu ($Q^2$ qua kỹ thuật Blindfolding và quy trình PLSpredict so sánh với mô hình hồi quy tuyến tính LM), chỉ số mức độ phù hợp của mô hình (SRMR) và kiểm định tính dị biệt đa nhóm (MGA, MICOM).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về điểm đến và khả năng phục hồi điểm đến du lịch trong nước và quốc tế. Sử dụng kỹ thuật phân tích trắc lượng thư mục bằng VOSviewer với 370 tài liệu Scopus giai đoạn 2010–2025, chương làm rõ sự tiến hóa từ trường phái phục hồi kỹ thuật (khung 4R của Bruneau và cộng sự, 2003) sang trường phái hệ thống sinh thái – xã hội (SES của Folke, 2006) và quản trị đa trung tâm (Ostrom, 2010). Tác giả làm rõ các cấp độ phân tích (tổ chức, cộng đồng, hệ thống) và luận giải khoảng trống nghiên cứu tại Bến Tre – một điểm đến nông nghiệp sông nước đang đối mặt với biến đổi khí hậu và rủi ro kép, qua đó xác định tính tất yếu của việc đưa Phía Cầu và biến điều tiết rủi ro vào mô hình.
Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
Chương 2 thiết lập khung lý thuyết tích hợp dựa trên 6 nền tảng: Lý thuyết Khả năng phục hồi điểm đến, TALC, SES, Năng lực thích ứng (AC), Quản trị đa trung tâm (PG), và Khả năng phục hồi khách du lịch (ToR). Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng hai nhóm giả thuyết tương ứng với hai mô hình thực nghiệm thành phần:
- Nhóm giả thuyết Phía Cung: Giả thuyết về tác động trực tiếp của 5 nguồn vốn (EC, SC, EN, IG, IT) và Quản trị đa trung tâm (PG) đến AC; tác động của AC đến DR; vai trò điều tiết của Mức độ phơi nhiễm rủi ro (RE) lên mối quan hệ AC $\rightarrow$ DR.
- Nhóm giả thuyết Phía Cầu: Giả thuyết về tác động của ToR đến AC; tác động của AC đến DR; vai trò điều tiết của RE lên mối quan hệ AC $\rightarrow$ DR.
Khung lý thuyết phân định rõ cơ chế chuyển hóa: các nguồn lực và quản trị đóng vai trò là tiền đề kích hoạt năng lực thích ứng (biến trung gian), từ đó dẫn tới kết quả phục hồi điểm đến.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định tính và định lượng. Tác giả mô tả quá trình phỏng vấn chuyên gia (09 chuyên gia hiệu chỉnh thang đo và 03 chuyên gia bổ sung đánh giá chu kỳ sống TALC). Chương nêu rõ quy trình thiết kế thang đo Likert, thử nghiệm sơ bộ 125 mẫu, và phương thức phân tách tệp dữ liệu chính thức 450 mẫu thành hai nguồn đo lường độc lập: Phía Cung (N = 270) và Phía Cầu (N = 180) nhằm kiểm soát sai lệch phương pháp chung (CMB). Chương cũng thiết lập tiêu chuẩn kỹ thuật phân tích PLS-SEM trên phần mềm SmartPLS gồm đánh giá độ tin cậy, giá trị hội tụ (AVE $\ge$ 0.5, CR $\ge$ 0.7), giá trị phân biệt (HTMT < 0.85/0.90), kiểm định đa cộng tuyến (VIF < 3.3/5), hệ số $R^2$, $f^2$, kiểm định dự báo ngoài mẫu PLSpredict, và chỉ số phù hợp mô hình SRMR.
Chương 4: Bối cảnh và kết quả nghiên cứu
Chương 4 mở đầu bằng việc khái quát không gian địa lý, sinh thái và phân tích hiện trạng điểm đến Bến Tre theo mô hình 5A của Dickman (Sức hút, Khả năng tiếp cận, Tiện nghi, Gói dịch vụ, Hoạt động trải nghiệm). Tác giả định vị chu kỳ sống của Bến Tre theo mô hình TALC dựa trên chuỗi số liệu 2015–2024 và phân tích tác động của "cú sốc kép" (hạn mặn lịch sử các đợt 2015–2016, 2019–2020, 2023–2024 kết hợp đứt gãy thị trường do đại dịch COVID-19).
Phần phân tích định lượng trình bày kết quả kiểm định mô hình đo lường và cấu trúc:
- Kiểm soát CMB: Kết quả kiểm định đơn nhân tố tử Harman và Full Collinearity VIF đều nằm trong ngưỡng an toàn, xác nhận không có hiện tượng sai lệch phương pháp chung nghiêm trọng.
- Đánh giá mô hình Phía Cung (N = 270): Độ tin cậy và giá trị hội tụ đạt chuẩn sau khi loại bỏ một số biến quan sát có hệ số tải ngoài thấp; giá trị phân biệt đảm bảo qua chỉ số HTMT. Kiểm định giả thuyết cấu trúc xác nhận năng lực giải thích của các nguồn vốn và PG lên AC, trong đó Vốn xã hội - con người (SC) và Quản trị đa trung tâm (PG) thể hiện vai trò tác động then chốt. Năng lực thích ứng (AC) đóng vai trò trung gian thúc đẩy Khả năng phục hồi điểm đến (DR). Kiểm định vai trò điều tiết của RE cho thấy mức độ phơi nhiễm rủi ro không làm triệt tiêu tác động của AC lên DR.
- Đánh giá mô hình Phía Cầu (N = 180): Kiểm định thang đo ToR, AC, RE, DR đạt độ tin cậy và phân biệt. Khả năng phục hồi của khách du lịch (ToR) có tác động tích cực đến Năng lực thích ứng (AC).
- Đối chiếu hai mô hình: Xác nhận tính kiên định (robustness) của năng lực thích ứng nội sinh, khẳng định sự phục hồi điểm đến được cảm nhận là kết quả tương hỗ giữa nỗ lực tự tổ chức Phía Cung và sự đồng kiến tạo Phía Cầu.
Chương 5: Thảo luận và hàm ý quản trị
Chương 5 thảo luận kết quả nghiên cứu dưới góc nhìn phân tách Cung – Cầu và hệ sinh thái sông nước. Trên cơ sở thực nghiệm, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp quản trị:
- Xây dựng kịch bản thích ứng theo mùa sinh thái và theo loại rủi ro (đặc biệt là lịch thích ứng hạn mặn hàng năm).
- Tăng cường quản trị đa trung tâm: phân cấp quyền lực chống chịu rủi ro, nâng cao tính tự chủ cho các hợp tác xã, hiệp hội du lịch và cộng đồng địa phương thay vì phụ thuộc mô hình tập trung từ trên xuống.
- Phát triển thị trường khách du lịch có trách nhiệm từ Phía Cầu: gia tăng tính trung thành và khả năng đồng chia sẻ rủi ro của du khách.
- Gợi mở định hướng phương pháp luận và nguyên tắc quản trị cho điểm đến sau khi sáp nhập hành chính thành tỉnh Vĩnh Long mới. Cuối chương, tác giả tổng kết các đóng góp mới, nêu rõ hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới trên ba phương diện lý luận, phương pháp luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận:
- Luận án bổ sung cấu trúc Khả năng phục hồi của khách du lịch (ToR) vào khung phân tích hệ sinh thái - xã hội, kiểm định trên tập dữ liệu độc lập của khách du lịch. Điều này giải quyết sự mất cân đối của các mô hình trước đây vốn chủ yếu tiếp cận từ Phía Cung, chứng minh Phía Cầu là một nguồn lực hữu cơ đồng kiến tạo năng lực thích ứng của hệ thống.
- Kiểm định định lượng vai trò điều tiết của Mức độ phơi nhiễm rủi ro (RE) trong mối quan hệ giữa Năng lực thích ứng (AC) và Khả năng phục hồi điểm đến (DR). Kết quả cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tính kiên định của năng lực thích ứng tại một điểm đến sinh thái – nông nghiệp có tập quán sống chung với rủi ro tự nhiên lâu đời.
- Vận hành hóa cơ chế chuyển hóa nguồn lực: chứng minh khối lượng nguồn vốn thuần túy không trực tiếp tạo ra phục hồi mà bắt buộc phải thông qua biến trung gian là năng lực thích ứng (AC), với chất xúc tác điều phối từ quản trị đa trung tâm (PG).
Về mặt phương pháp luận:
- Ứng dụng quy trình phân tách nguồn đo lường (Split-sample source approach) thành hai mô hình thực nghiệm độc lập (Phía Cung N = 270 và Phía Cầu N = 180). Thiết kế này kiểm soát triệt để sai lệch phương pháp chung (CMB) và bảo đảm tính hợp lý khi đo lường một hiện tượng cấp hệ thống thông qua nhận thức của các nhóm chủ thể khác nhau.
- Xây dựng và chuẩn hóa quy trình phân tích trắc lượng thư mục kết hợp mô hình cấu trúc PLS-SEM và phân tích chu kỳ TALC, tạo khung thao tác mẫu cho các nghiên cứu điểm đến du lịch sinh thái nông nghiệp tại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:
- Khuyến nghị chuyển dịch trọng tâm đầu tư: chuyển từ ưu tiên đầu tư hạ tầng vật chất đơn thuần sang củng cố Vốn xã hội - con người (SC) và cơ chế Quản trị đa trung tâm (PG) nhằm tối ưu hóa chi phí thích ứng trong điều kiện ngân sách hạn chế.
- Đề xuất khung kịch bản quản trị du lịch thích ứng theo mùa sinh thái (mùa khô mặn và mùa nước ngọt), tích hợp hệ thống cảnh báo sớm ranh mặn vào quy trình vận hành tour tuyến.
- Phân cấp thẩm quyền ứng phó rủi ro cho các thiết chế cơ sở (tổ hợp tác du lịch, hiệp hội làng nghề xứ dừa).
- Cung cấp các nguyên tắc gợi mở về mặt quản trị cho không gian du lịch tỉnh Vĩnh Long mới sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Giới hạn không gian và tính đại diện sau sáp nhập: Nghiên cứu thu thập dữ liệu trong phạm vi địa giới hành chính tỉnh Bến Tre trước ngày 01/7/2025. Do đó, các kết luận thực nghiệm phản ánh cấu trúc điểm đến Bến Tre cũ, không thể ngoại suy trực tiếp thành bức tranh tổng thể cho toàn bộ không gian hành chính của tỉnh Vĩnh Long mới (bao gồm Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long hợp nhất).
- Bản chất dữ liệu đo lường: Nghiên cứu đo lường hiện tượng cấp hệ thống thông qua nhận thức cá nhân ("khả năng phục hồi điểm đến được cảm nhận"), chưa thể thay thế hoàn toàn các chỉ số đo lường vật lý khách quan dài hạn. Dữ liệu khảo sát định lượng mang tính cắt ngang tại một thời điểm, chưa phản ánh được toàn bộ biến thiên động học qua nhiều năm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang toàn bộ không gian vùng du lịch tỉnh Vĩnh Long mới sau khi bộ máy chính quyền hai cấp đi vào vận hành ổn định, kiểm tra tính dị biệt giữa các tiểu vùng sinh thái (nước ngọt, nước lợ, nước mặn).
- Ứng dụng dữ liệu chuỗi thời gian (longitudinal data) kết hợp các chỉ số khách quan (doanh thu thời gian thực, mật độ biến động doanh nghiệp) để theo dõi động thái phục hồi đa thời điểm.
- Đi sâu nghiên cứu phân khúc hành vi của khách du lịch có trách nhiệm nhằm tìm ra các cơ chế kích hoạt sự đồng kiến tạo bền vững từ Phía Cầu.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu ngành Du lịch, Quản trị dịch vụ, Kinh tế phát triển và Địa lý kinh tế: Luận án cung cấp quy trình phương pháp luận rõ ràng về thiết kế nghiên cứu hỗn hợp, kỹ thuật phân tách nguồn đo lường kiểm soát CMB, và cách ứng dụng mô hình PLS-SEM trong đo lường các hiện tượng hệ thống phức hợp. Phần trắc lượng thư mục bằng VOSviewer là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc tổng quan tài liệu.
- Đối với giảng viên đại học: Hệ thống hóa lý thuyết về SES, TALC, Quản trị đa trung tâm và Mô hình 5A trong luận án có thể dùng làm học liệu giảng dạy các chuyên đề Quản trị điểm đến du lịch, Quản trị khủng hoảng và Du lịch bền vững.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý nhà nước (Sở Du lịch, Trung tâm Xúc tiến Du lịch) và các tổ chức quản lý điểm đến (DMO) tại ĐBSCL: Luận án cung cấp cơ sở thực nghiệm khẳng định vai trò của vốn xã hội và phân cấp quản trị đa trung tâm, hỗ trợ việc thiết kế kịch bản du lịch thích ứng biến đổi khí hậu và chính sách liên kết vùng sau sáp nhập địa giới hành chính.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án lại phân tách khảo sát thành hai mô hình Phía Cung (N = 270) và Phía Cầu (N = 180) thay vì gộp chung?
Luận án phân tách hai tệp dữ liệu nhằm giải quyết hai vấn đề học thuật: Thứ nhất, kiểm soát sai lệch phương pháp chung (Common Method Bias - CMB) khi đo lường các cấu trúc bằng cùng một bảng hỏi; thứ hai, bảo đảm tính phù hợp về vị thế nhận thức của chủ thể. Khách du lịch không thể đánh giá chính xác các cấu trúc thể chế, chính sách nội bộ của địa phương, trong khi cơ quan quản lý và doanh nghiệp không thể đại diện cho cảm xúc và hành vi trung thành của du khách.
2. Điểm khác biệt giữa tiếp cận phục hồi kỹ thuật (4R) và phục hồi hệ sinh thái - xã hội (SES) trong luận án là gì?
Tiếp cận kỹ thuật (4R) xem hệ thống tồn tại quanh một trạng thái cân bằng tĩnh và đo lường khả năng quay trở lại trạng thái cũ (bounce back) thông qua hạ tầng vật chất. Ngược lại, tiếp cận SES xem điểm đến là hệ thống động, không nhất thiết quay về trạng thái cũ mà hướng tới năng lực thích ứng, học hỏi và tái cấu trúc để tiến lên trạng thái mới bền vững hơn (bounce forward).
3. Biến Năng lực thích ứng (AC) đóng vai trò gì trong mô hình nghiên cứu?
Luận án xác định AC đóng vai trò là biến trung gian. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng khối lượng tài nguyên, hạ tầng hay vốn kinh tế sẵn có không trực tiếp tạo ra sự phục hồi của điểm đến, mà phải thông qua cơ chế chuyển hóa của năng lực thích ứng (sự linh hoạt, phối hợp và tái tổ chức nguồn lực) mới dẫn đến khả năng phục hồi được cảm nhận.
4. Khái niệm "Khả năng phục hồi của khách du lịch" (ToR) được hiểu như thế nào?
ToR phản ánh khả năng điều chỉnh nhận thức, hành vi, sự thấu hiểu rủi ro và lòng trung thành của khách du lịch đối với điểm đến khi gặp sự cố. Luận án xem ToR là một nguồn vốn ngoại sinh thuộc Phía Cầu, có vai trò đồng kiến tạo và cung cấp động lực cho điểm đến thích ứng và duy trì chức năng.
5. Luận án xử lý yếu tố thay đổi địa giới hành chính tỉnh Bến Tre vào năm 2025 như thế nào?
Tác giả quy ước giới hạn không gian nghiên cứu và dữ liệu khảo sát hoàn toàn thuộc địa giới tỉnh Bến Tre trước thời điểm sáp nhập ngày 01/7/2025. Các bàn luận liên quan đến tỉnh Vĩnh Long mới (sau khi hợp nhất Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long) chỉ dừng lại ở mức độ gợi mở hàm ý về mặt phương pháp luận và nguyên tắc quản trị, không coi là kết luận ngoại suy thực nghiệm cho toàn tỉnh mới.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Nguyên Phong đã giải quyết vấn đề đánh giá khả năng phục hồi điểm đến du lịch Bến Tre dưới lăng kính hệ thống sinh thái – xã hội và quản trị đa trung tâm. Bằng thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp trắc lượng thư mục và kỹ thuật phân tích mô hình cấu trúc PLS-SEM trên hai tập dữ liệu độc lập Phía Cung (N = 270) và Phía Cầu (N = 180), công trình chứng minh vai trò trung gian của năng lực thích ứng và tính kiên định nội sinh trước áp lực hạn mặn và khủng hoảng. Luận án mang lại các luận cứ khoa học thực chứng, định hướng chuyển dịch quản trị điểm đến sang phát huy vốn xã hội, cơ chế phối hợp đa trung tâm và kịch bản mùa sinh thái cho du lịch sinh thái nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long.