Chương I: Vài nét về đất nước, con người và lịch sử cia Thái Lan Ll. tài nét về dat nước và con người Thái Lan Vương quốc Thái Lan với thủ đô là Băng-cốc (từ năm 1782) có diện tích: 513.115 km2 (lớn thứ 49 thé giới), gồm 76 tinh, nằm ở phía nam lục địa Chau A va nằm ở trung tâm của khu vực Đông Nam A. Từ điểm cực Bắc tới điểm cực Nam là 2.500km; tir điểm cực Đông sang điểm cực Tây là 1. Thai Lan có bờ biển dai khoảng 1.840km theo bờ Vịnh Thái Lan và 865km trên bờ An Độ Dương.
Phía bắc giáp Lao va Myanma. Phía Đông giáp Cam-pu-chia va Vịnh Thai Lan; phía Nam giáp Malaysia; và phía Tây giáp biển Andaman và Mianma, Thái Lan được chia thành 4 khu vực địa lý: miền núi phía Bắc, đồng bang mau mỡ miền Trung là vựa lúa của đất nước. miền cao nguyên vùng Đông Bắc va khu vực đổi núi phía Nam giàu tài nguyên thiên nhiên và những cánh rừng nguyên sinh. Đây cũng là vùng trồng cao su thiên nhiên và các cây nhiệt đới khác.
Miền Bắc: gồm 17 tinh rộng 169,600 km2, núi đồi chiếm 80% cung cắp nguồn nước cho Thái Lan. Tinh Chiangma Ia trung tâm vùng thượng bắc vả tinh Phitxanuloke là trung tâm của vùng hạ bắc Miền Đông Bắc: gồm 19 tỉnh rộng 168.854km2 chiếm 1/3 điện tích đất nước với các tỉnh Nongkhai, Muk daharn và Nakom phonom là cửa ngõ chính dẫn đến các nước láng giềng Miền Trung: gồm 26 tinh, rộng 103.946 km2 là vùng đất nông nghiệp trù phú, thủ đô Băng Cốc và ngoại vi, tiểu vùng phía đông. đông bắc phía bắc vả tiêu vùng phía tây. Miễn Nam: gồm 14 tinh, rộng 70.715 km2 được biển bao bọc theo chiều đọc các tinh Phuket va Krabi năm ở phía biên Andaman.
Thủ đô Băng Cốc là thành phổ lớn nhất và là trung tâm chính trị, thương mại. công nghiệp vả văn hỏa. Diện tích lớn thứ 50 trên thẻ giới va dan số khoảng 64 triệu người đông thử 21 trên thé giới. Được chia lam 76 tinh rộng thir ba tại 15/107 Khóa luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thanh - K33 610076 Đông Nam A sau Indonesia và Myanma.
Phía Bắc có địa hình đôi núi, với điểm cao nhất (2.576 m) là đổi Inthanon. Phía Đông Bắc là Cao nguyên Khorat có biên giới tự nhiên vẻ phía Đông là sông Mekong đây là vùng trong nhiều sắn nhất của Thai Lan do khí hậu va đất dai phù hợp với cây sản. Trung tâm cua dat nước chu yếu là vùng đồng bằng sông Chao phrayya đồ ra Vịnh Thai Lan, Miễn Nam là eo đất Kra mở rộng dan vẻ phía bán dao Mã Lai. Vị trí địa lý khá thuận lợi trong khu vực, lại có đường biên giới tiếp xúc với nhiều quốc gia, dan tộc, nền văn hóa Thái Lan đã phát triển tir rất sớm, kế thừa và pha trộn.
ảnh hưởng nhiều nét độc đáo của các dân tộc lang giéng tạo nén một Thái Lan với những bản sắc văn hóa rất riêng, là biểu tượng của một đất nước cua nông nghiệp và đạo Phật. Do không bị chiến tranh tản phá. lại có phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp và tam lòng hiếu khách của nhân dan nơi đây, Thái Lan la một trong những quốc gia thu hút nhiều khách du lịch nhất khu vực. Có vị trí nằm trên đường xuyên A, đường hàng không quốc tế, có đường bờ biển dai tiếp giáp với nhiều nước trong khu vực, thuận lợi cho Thái Lan hợp tác phát triển kinh tế - văn hóa với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới.
Thái Lan là một quốc gia đa dân tộc. Dân số Thái Lan là 63,04 triệu người (2007) trong đó người Thái là dân tộc chủ thé chiếm 75%, người Hoa 14%. các dan tộc khác 11%, Ty lệ tăng trưởng dân số hàng năm vào khoảng L,3%. Trong lịch sử Thái Lan đã từng có chính sách đồng hóa người nhập cư và các dân tộc it người khác bằng cả hai biện pháp là đồng hóa cưỡng bức và đồng hóa tự nhiên.
Song nhìn chung, quả trình hội nhập của các tộc người vào xã hội người Thái khá êm a. Môi trường văn hóa tinh than của người Thai tương đối thuằn khiết, ít khi có xung đột vẻ văn hóa dân tộc. Có khoảng 95% người Thái Lan theo đạo Phật (phái Tiêu thừa với áo ca sa màu vàng). Chỉ có khoảng 4% dân số theo Hồi giao (chủ yếu là người có nguồn gốc Mã Lai) va 1% theo Thiên Chúa giáo.
Chùa chiên thờ Phật của cộng đồng người Thái từ bao đời nay là trung tâm hội tụ của cộng đồng làng bản cô truyền, là nơi linh thiêng của người Thái. Do người Thái là dan tộc chủ thẻ, chiếm đại đa số trong cơ cấu dân cư đản tộc nên tiếng Thai trở thành ngôn ngữ quốc gia, phd thông cua tất ca các dan tộc 16/107 Khóa luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thanh - K33 610076 lớn, nhỏ tại đất nước này. Một vài thập ky gan đây, tiếng Anh càng được sử dụng nhiều hơn trong thương mai, giáo dục và trên các phương tiện thông tin đại chúng Nói tóm lại, mặc dé Thái Lan là một nước đa sắc tộc nhưng hau như không có xung đột vé văn hóa. Dù là người Thái, người Hoa, người Khmer, người Môn hay người Karen, tất cả họ cùng chia sẻ những giá trị chung, coi tiếng Thái như một ngôn ngữ chính trong giao tiếp, giáo dục, hành chính vả thương mại.
Môi trường văn hóa tương đối thuần khiết này có lợi cho việc xây dựng ban sắc dân tộc ~ quốc gia Thái Lan. Khái quát quá trình lịch sử của Thái Lan (từ nguồn gốc đến năm 1997) Trước năm 1939, người Thái gọi là người Xiém. Theo sử sách Thái Lan. người Thái xuất xứ từ vùng núi Altai, đông bắc tính Tứ Xuyên - Trung Quốc từ 4500 năm trước, sau đó di cu dần xuống vùng đất hiện nay là Thái Lan.
Vào nam 1238, người Thái thành lập một vương quốc Phật giáo tên Sukhothai (ở miễn Bac Thái Lan), dần thay thế vai trò của Dé chế Khmer đang tàn lụi (từ thế ký 13 đến thé ky 15). Năm 1283 người Thai có chữ viết. Sau đó người Thái mở rộng lãnh thé xuống phía nam, va năm 1350 chuyển kinh đỏ xuống Ayuthaya (phía bắc Bangkok 70 km). Năm 1431, quân Xiêm cướp phá Angkor.
Nhiều bảo vật và trang phục của văn hóa Hindu đã được họ đem về Ayutthaya, lễ nghỉ và cách ăn mặc của người Khmer được dung nhập vào thượng tang văn hóa Xiém. Trong khoảng 400 năm, từ thế kỷ 14 đến thé ky 18, giữa người Thai va người Mién Điện láng giéng luôn xảy ra các cuộc chiến tranh va kinh đô Ayuthaya bị huỷ điệt ở thé kỷ 18. Năm 1767, một tướng người Thái gốc Hoa, Taksin, đứng lên chống quân Miễn Điện gianh lại độc lập va dời đô vẻ Thonburi, bên bờ sông Chao Phraya, đối điện với Bangkok. Vua Rama I (1782) lên ngôi và chọn Bangkok (hay Thanh phố của các thiên than) làm Kinh đô.
17/107 Khoa luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thanh - K33 610076 Trước nằm 1932 Thái Lan theo chế độ Quân chủ chuyên chế. Sau cuộc cách mạng tư sản năm 1932 đo một nhóm sĩ quan trẻ lãnh dao, Thai Lan chuyên tir chế độ quân chủ chuyên chế sang chế độ quân chủ lập hiển. Ngảy 05 tháng 12 năm 1932 vua Prachadhipok (Rama VII) đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Thai Lan. Hơn 60 năm qua Thái Lan đã thay đổi 16 hiển pháp (nhiều lần dao chính).
nhưng Hiến pháp 1932 vẫn được coi là cơ sở. Cuối cùng, vào thập niên 1980, Thái Lan chuyên hướng sang con đường dân chủ. Năm 1997, Thái Lan trở thành tâm điểm của Khủng hoang tài chỉnh Đông A. Đông baht nhanh chóng sụt gia từ mức 25 baht đôi | đô la xuống mức 56 baht đôi | đô la.
Sau đó, đồng baht din lấy lại được sức nặng của mình, đến năm 2007, ty giá giữa dong baht va đô la là 33:1”. ' Kinh tế các nước ASEAN ~ Nguyễn Thị Thủy Hồng - NXBGD, 2009, trang 130 * Kính tế các nước ASEAN, sd, trang 130. 18/107 Khoa luận tốt nghiệp Dd Thị Thanh - K33 610076 Chương II: Tình hình kinh tế, chính trị và ngoại giao của Thai Lan (1997 - 2010) I. Tình hình kinh tế của Thái Lan (1997 - 2010).
— Tình hình kinh tế ở Thai Lan trước năm 1997 Thai Lan là một nước nông nghiệp lạc hậu. Rừng chiếm 28% điện tích cả nước, đất canh tác chiếm 41%, Trước năm 1960, nông nghiệp chiếm 70% tông giá trị xuất khẩu, lao động nông nghiệp chiếm 82% tổng số lao động. Đến cuối giai đoạn này. kinh tế Thai Lan van rất ẻo uột, thu nhập GNP bình quân đầu người kém hơn hẳn một số nước khác trong khu vực.
Thái Lan vốn la nước nông nghiệp truyền thống. có xuất phát điểm thấp. Năm 1960, Thai Lan thực hiện ké hoạch phát triển kinh tế lần thứ 1. Đến năm 1962, thu nhập bình quân GNP đầu người của Thái Lan mới có 82 USD, trong khhi đó, ngay từ năm 1957, Malaysia đã có thu nhập 211 USD/dau người: Philippin: 149 USD (năm 1959) và Đài Loan: 100 USD (nam 1956)`.
Công nghiệp thời kỷ này phát triển rất chậm do: chích sách không cởi mở của Chính phủ đã không thu hút được nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài. việc tẩy chay người Hoa, thực hiện chính sách Thái Lan hóa chi phục vụ lợi ich một cộng đồng người Thái không có kinh nghiệm kinh doanh, không tạo ra động lực để phát triển kinh tế, kim ham các hoạt động ngoại giao, không thực hiện được chính sách đối ngoại. Mặc du sớm gia nhập các tổ chức trong khu vực. nhưng trong thập ky 60 và đầu thập ky 70 của thé ky XX, nền kinh tế chậm phát triển.
ty lệ dân số sóng dưới mức nghèo cao. nông nghiệp vẫn là nghành kinh tế chính của 80% dân số. Tir đầu thập niên 60 đến đầu thập niên 70 (1961 - 1972): đây là giai đoạn tim kiếm chiến lược phát triển. Nhìn chung, Thái Lan vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu, hơn 80% dân số vẫn sống ở nông thôn.
Mặc di là nước xuất khâu gạo lớn nhất Đông Nam A nhưng đời sống người nông dân van rất khỏ cực. Nêu tính bình quân mỗi hộ, diện tích dat canh tác tới 4ha. nhưng chủ yếu chỉ tập trung ` Kinh tế các nước ASEAN, sdd, trang 132, = = | TRO VIEW io | Trường Dai-Hoc Sư-Phạm TP. 40-CHI-MINH — | Khóa luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thanh - K33 610076 vào một số ít người, 85% số nông dân không có ruộng đất.
Trinh độ chuyên món của người lao động rat thắp, cả nước chỉ có 3 trường đại học. Do bi cảnh lịch su, thời kỳ này, Mỹ đã can thiệp sâu vào đời sống chỉnh trị.