Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Nghiện Internet và tự đánh giá bản thân của học sinh trung học cơ sở" do nghiên cứu sinh Lê Minh Công thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS Trần Thị Minh Đức, thuộc chuyên ngành Tâm lý học chuyên ngành (mã số: 62 31 04 01) tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2016).

Về tính cấp thiết, sự phát triển nhanh chóng của internet cùng các tiện ích truyền thông tạo nên bước ngoặt lớn trong đời sống xã hội nhưng đồng thời kéo theo tình trạng lạm dụng và nghiện internet gia tăng ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Các báo cáo quốc tế ghi nhận tỷ lệ nghiện internet dao động từ 5% đến 19,8% tại Hoa Kỳ (Griffiths, 2008), 8% tại Trung Quốc, 5% tại Đài Loan và 6% tại Hàn Quốc (Regina, Hechanova và Jennifer Czincz, 2009). Nghiện internet gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực đến sức khỏe tâm thần, các mối quan hệ xã hội, kết quả học tập và an toàn cá nhân. Ở lứa tuổi trung học cơ sở (11–15 tuổi), tự đánh giá bản thân (self-esteem) là cấu trúc tâm lý đang trong giai đoạn hình thành và phát triển mạnh mẽ, chi phối sâu sắc đến cảm xúc, hành vi và sự thích ứng xã hội của học sinh. Tỉnh Đồng Nai là trung tâm công nghiệp lớn của khu vực phía Nam, nơi quá trình đô thị hóa và áp lực xã hội làm nảy sinh nhiều vấn đề tâm lý học đường, rối nhiễu hành vi và nghiện internet ở giới trẻ.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các nghiên cứu trong nước trước đó phần lớn mới chỉ dừng lại ở việc xem xét thực trạng sử dụng internet đơn lẻ hoặc kiểm định tương quan chung giữa nghiện internet và một vài biến số tâm lý, chưa phân tích thực trạng toàn diện theo các mức độ nghiện (nhẹ, vừa, nặng) gắn với từng khía cạnh cấu thành của tự đánh giá bản thân ở học sinh trung học cơ sở, đồng thời thiếu vắng các mô hình can thiệp thực nghiệm tham vấn tâm lý học đường tại Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực trạng của nghiện internet và tự đánh giá bản thân của học sinh trung học cơ sở, luận án sử dụng tham vấn bằng liệu pháp Nhận thức – Hành vi (CBT) nhằm giảm tình trạng nghiện internet và nâng cao tự đánh giá bản thân cho các em.

Hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu gồm 4 nhiệm vụ:

  1. Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu nghiện internet và tự đánh giá bản thân ở học sinh trung học cơ sở.
  2. Làm rõ thực trạng mức độ, biểu hiện của nghiện internet và tự đánh giá bản thân của học sinh trung học cơ sở nghiện internet.
  3. Phân tích mối tương quan giữa các mức độ nghiện internet và các khía cạnh tự đánh giá bản thân của học sinh trung học cơ sở nghiện.
  4. Đề xuất thử áp dụng biện pháp nâng cao tự đánh giá bản thân và giảm tình trạng nghiện internet ở học sinh trung học cơ sở.

Đối tượng nghiên cứu: Mức độ, biểu hiện và mối quan hệ giữa nghiện internet và tự đánh giá bản thân của học sinh trung học cơ sở nghiện internet.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian và khách thể: Khảo sát sàng lọc trên 1.054 học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 tại 3 trường trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Đồng Nai: Trường THCS Tam Hiệp (368 học sinh), Trường THCS Phú Lâm (472 học sinh) và Trường THCS Song ngữ Lạc Hồng (214 học sinh).
  • Mẫu nghiên cứu sâu về tự đánh giá bản thân: Tập trung vào nhóm 163 học sinh được xác định nghiện internet qua trắc nghiệm sàng lọc.
  • Nội dung: Xem xét 3 mức độ nghiện internet (nhẹ, vừa, nặng) theo các tiêu chí nhân khẩu học (giới tính, khối lớp, kết quả học tập, kinh tế gia đình, hôn nhân cha mẹ, địa bàn cư trú, loại hình trường); phân tích biểu hiện tâm lý (nhận thức, cảm xúc, hành vi), các yếu tố ảnh hưởng và 6 khía cạnh tự đánh giá bản thân (Thể chất, Cảm xúc, Gia đình, Học đường, Xã hội, Tương lai).
Trường THCS khảo sát Địa bàn / Loại hình Số lượng học sinh sàng lọc
THCS Tam Hiệp TP. Biên Hòa (Công lập đô thị) 368
THCS Phú Lâm Huyện Tân Phú (Công lập nông thôn/miền núi) 472
THCS Song ngữ Lạc Hồng TP. Biên Hòa (Tư thục / Song ngữ) 214
Tổng cộng mẫu sàng lọc Toàn tỉnh Đồng Nai 1.054
Tổng mẫu học sinh nghiện internet Nghiên cứu chuyên sâu 163

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu quốc tế cho thấy nghiện internet bắt đầu được Kimberly S. Young nghiên cứu từ năm 1996 trên 600 trường hợp lạm dụng internet dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện đánh bạc của DSM-IV. Các nghiên cứu tiếp theo của Young (1996, 1998, 1999, 2004), David Greenfield (1999), Mark D. Griffiths (1996, 1998, 2000, 2008), Sue Fisher (1994), Ivan Goldberg (1996), Davis (1999, 2001) đã làm sáng tỏ tỷ lệ thịnh hành, tiêu chuẩn chẩn đoán, nguyên nhân và hậu quả của nghiện internet.

Tác giả Năm công bố Tỷ lệ nghiện (%) Khách thể nghiên cứu Độ tuổi Cỡ mẫu (N)
Greenfield 1999 5,6 Không rõ 33 16.333
Morahan; Martin 2000 8,8 Sinh viên - 1.078
DiNicola 2004 7,0 Sinh viên - 731
Yuen_Lavin 2004 15,9 Sinh viên - 283
Fortson và cộng sự 2007 26,4 Sinh viên - 411
Zhang và cộng sự 2008 4,0 Sinh viên 22 171
Gentile 2009 19,8 Học sinh 8–18 1.178
Saville và cộng sự 2010 5,0 Sinh viên - 276

Tại châu Á, các nghiên cứu của F. Su (2006), Cui, Zhao, Wu và Xu (2006), Tao (2008), Tsai và Lin (2001), Yang và Tung (2007) tại Trung Quốc ghi nhận tỷ lệ nghiện dao động từ 2,4% đến 11,06%. Tại Đài Loan, Yang (2001) ghi nhận 10%; Bai, Lin, Chen (2001) chỉ ra 15% thân chủ lâm sàng mắc rối loạn nghiện internet. Tại Hàn Quốc, Whang, Lee và Chang (2003) ghi nhận 3,5% nghiện; Jang, Wang, Choi (2008) phát hiện 3,7% học sinh THCS và 5,1% học sinh THPT nghiện internet. Tại Singapore, Subramaniam Mythily, Shijia Qiu và Munidasa Winslow (2008) khảo sát 2.735 thanh thiếu niên, phát hiện 17,1% sử dụng internet trên 5 giờ/ngày và có dấu hiệu lạm dụng.

Về tự đánh giá bản thân, các nghiên cứu nền tảng từ James (1890), Cooley (1902), Mead (1934), Bolognini (1998), Owens, Stryker và Goodman (2001) đã phân tích bản chất, nguồn gốc và tiêu chuẩn đo lường (tính phù hợp, tính phân biệt, tính khái quát, độ cao thấp và tính bền vững) theo Safin (1975), Boivin (1992), Dissler (1976), Iarosevski và Petroski (1990). Các yếu tố ảnh hưởng gồm môi trường xã hội bên ngoài (Adler, 1927; Rogers, 1951; Rosenberg, 1979; Bowlby, 1982) và yếu tố tự nhiên bên trong như dậy thì, thể chất (Steinberg, 1993).

Về mối quan hệ giữa nghiện internet và tự đánh giá bản thân, luận án phân loại y văn thế giới thành 3 hướng chính:

  • Hướng 1: Nghiên cứu ảnh hưởng qua lại giữa nghiện internet và tự đánh giá bản thân (Lily Mehrnaz, Alireza, 2008; Tuncay Ayas, Mehmet Baris Horzum, 2010; Silvia Casale, Giulia Fioravanti, 2011, 2012; Laura Widyanto, Mark D. Griffiths, 2008, 2011; Eun Joo Kim và cs, 2008). Các kết quả chỉ ra học sinh nghiện internet thường có tự đánh giá thấp, cô đơn và kỹ năng xã hội kém.
  • Hướng 2: Tự đánh giá thấp như một yếu tố nguy cơ hoặc tiền tố dẫn tới nghiện internet (Shotton, 1991; Greenberg, Lewis, Dodd, 1999; Young, 1999; Junghyun Kim, Paul M. Haridakis, 2009; Morahan-Martin, Schumacher, 2009; Katia Niemz và cs, 2005; Bahadir Bozoglan và cs, 2013; Caplan, 2003; Kubey và cs, 2001; Ellison và cs, 2007; Zhang và cs, 2012; Chih-Hung Ko và cs, 2003, 2008; Meerker và cs, 2010; Emre Senol-Durak, Mithat Durak, 2011). Tự đánh giá thấp thúc đẩy việc tìm kiếm sự bù đắp xã hội trên mạng ảo.
  • Hướng 3: Nghiên cứu từng khía cạnh cụ thể của tự đánh giá liên quan đến nghiện internet (Stefan Stieger, Christoph Burger, 2010 phân biệt tự đánh giá bên trong và bên ngoài; Betül Aydin, Serkan Volkan Sari, 2011 chỉ ra tự đánh giá gia đình và xã hội có tương quan nghịch với nghiện; Beatrix Koronczai và cs, 2013 nghiên cứu tự đánh giá ngoại hình, thể chất).

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Viện Xã hội học (2010) khảo sát game online ghi nhận 5,2% người chơi nghiện theo chuẩn WHO. Trần Thị Minh Đức và cộng sự (2013) khảo sát 4.468 thanh thiếu niên (11–30 tuổi), chỉ ra 63,7% chơi game bạo lực và nhóm này có tự đánh giá thấp. Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Hậu, Hồ Thị Luyến (2009), Lê Minh Công (2009), Nguyễn Minh Tiến (2009) tiếp cận vấn đề ở mức độ tổng quan tài liệu. Về tự đánh giá bản thân, các tác giả Vũ Thị Nho (1998b), Nguyễn Thị Hoa (1999), Văn Thị Kim Cúc và cs (2003a, 2004), Đỗ Ngọc Khanh (2004b, 2005), Trịnh Thị Linh (2014), Nguyễn Thị Anh Thư, Nguyễn Thị Mùi (2014), Hoàng Mộc Lan, Trịnh Thị Linh (2015), Bùi Thị Hồng Thái (2014), Trần Hữu Luyến, Bùi Thị Hồng Thái (2015) đã nghiên cứu tự đánh giá ở học sinh, sinh viên và người cao tuổi.

Vị trí của luận án: Luận án là công trình chuyên khảo giải quyết khoảng trống thực nghiệm tại Việt Nam khi kết hợp đồng thời đo lường định lượng diện rộng về các mức độ nghiện internet, phân tích chuyên sâu 6 khía cạnh tự đánh giá bản thân ở học sinh trung học cơ sở và tiến hành can thiệp tham vấn lâm sàng bằng liệu pháp Nhận thức – Hành vi.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Khái niệm nghiện: Luận án tiếp thu các quan điểm y học và tâm lý học (Nguyễn Khắc Viện, 1992; WHO, 1992; Vũ Dũng, 2009) để xác lập: Nghiện là trạng thái tâm lý đòi hỏi thường xuyên phải sử dụng cái gây nghiện một cách quá mức với độ dung nạp ngày càng gia tăng, dẫn đến việc mất kiểm soát bản thân, để lại hậu quả tiêu cực về nhận thức, cảm xúc, hành vi và xuất hiện các triệu chứng của hội chứng cai. Nghiện có 5 đặc trưng: tính bền vững, tính chu kỳ, tính thái quá, tính tiêu cực và hội chứng cai.
  • Khái niệm nghiện internet: Luận án định nghĩa nghiện internet là trạng thái tâm lý đòi hỏi thường xuyên được sử dụng internet một cách quá mức dưới bất cứ hình thức nào, độ dung nạp ngày càng gia tăng, dẫn đến tình trạng bản thân mất dần khả năng kiểm soát việc sử dụng internet, gây nên những hậu quả tiêu cực về nhận thức, cảm xúc và hành vi trong cuộc sống của cá nhân, xuất hiện các triệu chứng của hội chứng cai khi giảm hoặc cắt sử dụng internet một cách đột ngột.
  • Biểu hiện tâm lý của nghiện internet: Luận án phân loại biểu hiện nghiện thành 3 nhóm:
    • Nhận thức: Luôn bận tâm, suy nghĩ về việc sử dụng internet; xung đột nội tâm và sai lệch nhận thức.
    • Cảm xúc: Biến đổi cảm xúc tiêu cực (buồn chán, lo âu, bồn chồn); cảm giác thèm muốn mãnh liệt; xuất hiện hội chứng cai khi bị ngưng kết nối.
    • Hành vi: Gia tăng thời gian online; xáo trộn sinh hoạt (thức khuya, dậy muộn, bỏ ăn); nói dối, trộm cắp vặt; thu mình, giảm giao tiếp xã hội; hành vi tái phát sau thời gian kiêng khem.
  • Khái niệm tự đánh giá bản thân: Là sự tự nhận xét, đánh giá của cá nhân về phẩm chất, năng lực, giá trị của bản thân theo quan điểm của chính mình (Burger, 2006). Ở học sinh THCS, tự đánh giá được xem xét qua 6 khía cạnh: Thể chất, Cảm xúc, Gia đình, Học đường, Xã hội và Tương lai.

Nguyên tắc phương pháp luận

  • Nguyên tắc hoạt động – nhân cách: Nghiên cứu hành vi sử dụng internet và tự đánh giá bản thân gắn liền với hoạt động học tập, giao tiếp và đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 11–15.
  • Nguyên tắc hệ thống: Xem xét mối quan hệ giữa nghiện internet và tự đánh giá bản thân trong sự tương tác đa chiều giữa cá nhân học sinh, môi trường gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội tại địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp các công trình lý luận và thực nghiệm trong và ngoài nước.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát thực trạng nhu cầu, thói quen, mức độ nghiện internet, các biểu hiện tâm lý và các khía cạnh tự đánh giá.
  • Phương pháp trắc nghiệm tâm lý: Sử dụng Bảng tiêu chuẩn chẩn đoán 8 câu hỏi (dựa trên tiêu chuẩn Young đã hiệu đính, áp dụng nguyên tắc "5 trong 8") và Trắc nghiệm đo mức độ nghiện Internet (IAT - Internet Addiction Test của Kimberly Young, 1996) đã được thích nghi chuẩn hóa tại Đồng Nai (Lê Minh Công, 2009).
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn học sinh, giáo viên, phụ huynh nhằm thu thập thông tin định tính về nguyên nhân, biểu hiện và bối cảnh sinh hoạt.
  • Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham vấn các chuyên gia tâm lý học, tâm thần học về tiêu chí đánh giá và quy trình can thiệp.
  • Phương pháp tham vấn tâm lý: Ứng dụng liệu pháp Nhận thức – Hành vi (Cognitive Behavioral Therapy - CBT) trên 2 học sinh nghiện internet có điểm tự đánh giá thấp nhằm thay đổi nhận thức sai lệch, kiểm soát hành vi online và nâng cao lòng tự trọng.
  • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm SPSS phiên bản 11 (thống kê mô tả điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định t-test, ANOVA so sánh sai biệt, kiểm định hệ số tương quan Pearson).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về nghiện internet và tự đánh giá bản thân của học sinh trung học cơ sở

Chương này tập trung hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu quốc tế và trong nước về nghiện internet, tự đánh giá bản thân và mối quan hệ tương tác giữa hai vấn đề. Tác giả phân tích các mô hình lý thuyết từ trường phái hành vi, phân tâm học, nhận thức và tâm lý học phát triển; làm rõ các tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM-IV, DSM-V (APA, 2013) và ICD-10 (WHO, 1992). Đồng thời, chương 1 xác lập khung khái niệm công cụ, hệ thống hóa các đặc điểm tâm sinh lý đặc thù của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở (11–15 tuổi) như sự khủng hoảng tuổi dậy thì, nhu cầu khẳng định cái Tôi, sự nhạy cảm trong tự ý thức và tính dễ bị tổn thương trước các tác động từ môi trường mạng.

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu gồm 3 giai đoạn:

  1. Giai đoạn chuẩn bị và xây dựng công cụ (chọn mẫu, chuẩn hóa thang đo IAT, bảng tiêu chuẩn chẩn đoán và thang đo tự đánh giá bản thân).
  2. Giai đoạn điều tra thực tiễn (sàng lọc 1.054 học sinh tại 3 trường THCS ở Đồng Nai; chọn lọc và nghiên cứu chuyên sâu 163 học sinh nghiện internet).
  3. Giai đoạn can thiệp thực nghiệm (thiết kế khung tiến trình tham vấn theo liệu pháp Nhận thức – Hành vi CBT cho 2 ca điển hình).

Chương này cũng mô tả các chỉ số thống kê, độ tin cậy của các thang đo và quy trình xử lý dữ liệu qua phần mềm SPSS 11.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn nghiện internet và tự đánh giá bản thân của học sinh trung học cơ sở tại Đồng Nai

Chương 3 công bố toàn bộ số liệu thực nghiệm thu được từ địa bàn tỉnh Đồng Nai với các nội dung trọng tâm:

  • Thực trạng và mức độ nghiện internet: Tỷ lệ học sinh THCS nghiện internet chiếm tỷ lệ đáng kể trong mẫu khảo sát (163/1.054 học sinh, tương đương 15,46%), trong đó phân bố chủ yếu ở mức độ nhẹ và vừa, tỷ lệ nghiện mức độ nặng chiếm tỷ lệ rất thấp. Học sinh tiếp cận internet từ sớm, phương tiện truy cập chủ yếu là điện thoại thông minh và máy tính tại nhà hoặc dịch vụ internet công cộng.
  • Khác biệt mức độ nghiện theo các biến số:
    • Giới tính: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), học sinh nam có tỷ lệ và mức độ nghiện internet cao hơn học sinh nữ.
    • Các yếu tố khác: Không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa mức độ nghiện internet theo khối lớp (từ lớp 6 đến lớp 9), kết quả học tập, điều kiện kinh tế gia đình, tình trạng hôn nhân của cha mẹ, địa bàn cư trú (thành thị hay nông thôn) và loại hình trường học (công lập hay tư thục/song ngữ).
  • Biểu hiện tâm lý và các mặt bị ảnh hưởng: Học sinh nghiện internet xuất hiện các biểu hiện tiêu cực rõ rệt về nhận thức (suy nghĩ thường trực về mạng, xung đột nội tâm), cảm xúc (lo âu, bồn chồn, thèm muốn) và hành vi (thức khuya, trốn học, giảm giao tiếp). Tình trạng nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất (nhức mỏi mắt, đau cột sống, hội chứng ống cổ tay), giấc ngủ, quan hệ gia đình - bạn bè, thành tích học tập, an toàn cá nhân (bị bắt nạt trực tuyến, quấy rối/gạ gẫm tình dục, tự phơi bày hình ảnh tiêu cực) và sử dụng chất; tuy nhiên mức độ tổn hại chung ở mức trung bình.
  • Thực trạng tự đánh giá bản thân: Điểm tự đánh giá bản thân của nhóm 163 học sinh nghiện internet đạt mức thấp trên cả 6 khía cạnh: Thể chất, Cảm xúc, Gia đình, Học đường, Xã hội và Tương lai.
  • Mối tương quan giữa nghiện internet và tự đánh giá: Phân tích tương quan chỉ ra tự đánh giá bản thân chỉ có mối tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê với mức độ nghiện internet nặng ở hai khía cạnh: Gia đình và Cảm xúc. Không tìm thấy tương quan có ý nghĩa giữa mức độ nghiện nhẹ, vừa với các khía cạnh Xã hội, Học đường, Thể chất và Tương lai.
  • Kết quả tham vấn thực nghiệm: Tiến hành tham vấn tâm lý theo liệu pháp Nhận thức – Hành vi (CBT) trên 2 học sinh nghiện internet có tự đánh giá thấp. Kết quả sau tiến trình can thiệp cho thấy học sinh nhận diện được nhận thức sai lệch, giảm thời gian online không kiểm soát, cải thiện cảm xúc tích cực và nâng cao điểm tự đánh giá bản thân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về nghiện internet, tự đánh giá bản thân và mối quan hệ tương tác giữa hai hiện tượng tâm lý này ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở trong bối cảnh tâm lý học chuyên ngành tại Việt Nam.
  • Xác định rõ các tiêu chí biểu hiện tâm lý của người nghiện internet dưới 3 bình diện cấu thành: nhận thức, cảm xúc và hành vi.
  • Xây dựng khung phân tích liên kết giữa các mức độ nghiện internet với 6 khía cạnh biểu hiện của tự đánh giá bản thân ở lứa tuổi thiếu niên.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về tỷ lệ thịnh hành, đặc điểm sử dụng và các mức độ nghiện internet của học sinh THCS tại địa bàn tỉnh Đồng Nai.
  • Chứng minh bằng số liệu thực nghiệm: Mức độ nghiện internet chỉ có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo tiêu chí giới tính; không có sự khác biệt có ý nghĩa theo khối lớp, thành tích học tập, địa bàn cư trú, tình trạng kinh tế và hôn nhân gia đình.
  • Phát hiện quy luật tương quan đặc thù: Tự đánh giá bản thân chỉ có tương quan có ý nghĩa đối với nghiện internet mức độ nặng trên 2 khía cạnh Cảm xúc và Gia đình; các mức độ nghiện nhẹ và vừa không thể hiện tương quan rõ nét với các khía cạnh tự đánh giá khác.
  • Đề xuất hệ thống 04 giải pháp phòng ngừa, can thiệp giảm nghiện internet và nâng cao tự đánh giá bản thân cho học sinh trung học cơ sở; bước đầu thực nghiệm thành công mô hình tham vấn tâm lý học đường tiếp cận theo liệu pháp Nhận thức – Hành vi (CBT).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án tự nhìn nhận các giới hạn:

  • Phạm vi địa bàn khảo sát định lượng chỉ giới hạn tại 3 trường THCS thuộc tỉnh Đồng Nai, chưa bao quát các vùng miền khác trên toàn quốc.
  • Việc khảo sát chuyên sâu 6 khía cạnh tự đánh giá bản thân chỉ thực hiện trên nhóm 163 học sinh đã sàng lọc nghiện internet, chưa tiến hành đối sánh song song trên toàn bộ 1.054 học sinh của mẫu đại trà.
  • Về mặt lý thuyết, đề tài chưa phân tích sâu cấu trúc nội tại của tự đánh giá bản thân mà chỉ tập trung khảo sát các mặt biểu hiện thực chứng.
  • Thực nghiệm tham vấn tâm lý theo liệu pháp CBT mới dừng lại ở quy mô thử nghiệm 2 trường hợp điển hình, chưa triển khai trên quy mô nhóm lớn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát thực trạng nghiện internet và tự đánh giá bản thân trên các mẫu khách thể đa dạng tại nhiều tỉnh, thành phố khác nhau để tăng tính đại diện.
  • Nghiên cứu so sánh đối chứng toàn diện về tự đánh giá bản thân giữa nhóm học sinh nghiện internet và nhóm học sinh không nghiện internet.
  • Triển khai thử nghiệm mô hình can thiệp tham vấn Nhận thức – Hành vi (CBT) trên quy mô mẫu can thiệp lớn hơn, kết hợp đánh giá theo dõi dọc (longitudinal study) để kiểm định tính bền vững của kết quả can thiệp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Tâm lý học (Tâm lý học chuyên ngành, Tâm lý học phát triển, Tâm lý học lâm sàng, Tâm lý học học đường), Giáo dục học và Công tác xã hội: Luận án cung cấp hệ thống tổng quan tài liệu phong phú, cơ sở lý luận chuẩn mực và phương pháp luận thiết kế nghiên cứu kết hợp định lượng – thực nghiệm can thiệp.
  • Đối với các nhà thực hành tâm lý học đường, chuyên viên tham vấn, bác sĩ tâm thần: Luận án cung cấp bộ công cụ trắc nghiệm chuẩn hóa (IAT, tiêu chuẩn chẩn đoán) và khung quy trình tham vấn tâm lý trị liệu theo liệu pháp Nhận thức – Hành vi (CBT) đã được kiểm chứng thực tế trên học sinh Việt Nam.
  • Đối với cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên THCS và các bậc phụ huynh: Luận án cung cấp dữ liệu thực chứng về nguyên nhân, biểu hiện lệch lạc hành vi và các biện pháp hỗ trợ nâng cao lòng tự trọng, cải thiện môi trường gia đình nhằm phòng ngừa nguy cơ nghiện internet ở thanh thiếu niên.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát trên quy mô mẫu nào và tại địa bàn nào?
Luận án tiến hành khảo sát sàng lọc trên tổng số 1.054 học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 tại 3 trường THCS thuộc tỉnh Đồng Nai: Trường THCS Tam Hiệp (368 em), Trường THCS Phú Lâm (472 em) và Trường THCS Song ngữ Lạc Hồng (214 em). Từ mẫu sàng lọc này, tác giả chọn ra 163 học sinh nghiện internet để nghiên cứu chuyên sâu về tự đánh giá bản thân và chọn 2 học sinh để thử nghiệm tham vấn tâm lý.

2. Tác giả sử dụng bộ công cụ nào để chẩn đoán và đo lường mức độ nghiện internet?
Tác giả sử dụng Bảng tiêu chuẩn chẩn đoán 8 câu hỏi (phỏng theo tiêu chuẩn DSM-IV do Kimberly Young xây dựng và Beard hiệu đính, áp dụng nguyên tắc "5 trong 8") kết hợp với Thang trắc nghiệm đo mức độ nghiện internet IAT (Internet Addiction Test) gồm 20 câu của Kimberly Young (1996) đã được thích nghi và chuẩn hóa trong nghiên cứu trước đó tại Đồng Nai.

3. Mức độ nghiện internet của học sinh THCS có sự khác biệt như thế nào theo các biến số nhân khẩu học?
Kết quả xử lý thống kê trên SPSS 11 chỉ ra mức độ nghiện internet chỉ có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo tiêu chí giới tính (học sinh nam có mức độ nghiện cao hơn học sinh nữ, p < 0,05). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo khối lớp, kết quả học tập, điều kiện kinh tế gia đình, tình trạng hôn nhân cha mẹ, địa bàn cư trú và loại hình trường học.

4. Mối tương quan giữa nghiện internet và các khía cạnh tự đánh giá bản thân được xác định như thế nào?
Học sinh THCS nghiện internet có điểm tự đánh giá bản thân ở mức thấp. Phân tích tương quan chỉ ra tự đánh giá bản thân chỉ có tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê với mức độ nghiện internet nặng ở 2 khía cạnh: Gia đình và Cảm xúc. Nghiện internet mức độ nhẹ và vừa không có tương quan có ý nghĩa thống kê với các khía cạnh Xã hội, Học đường, Thể chất và Tương lai.

5. Luận án đã thử nghiệm liệu pháp can thiệp tâm lý nào để trợ giúp học sinh nghiện internet?
Luận án lựa chọn và thử nghiệm liệu pháp Nhận thức – Hành vi (Cognitive Behavioral Therapy - CBT) thông qua hình thức tham vấn tâm lý cá nhân cho 2 học sinh nghiện internet có tự đánh giá thấp. Kết quả thực nghiệm xác nhận liệu pháp giúp học sinh điều chỉnh nhận thức, kiểm soát hành vi sử dụng internet và nâng cao lòng tự đánh giá bản thân.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Minh Công là công trình nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu về thực trạng nghiện internet và tự đánh giá bản thân của học sinh trung học cơ sở tại địa bàn tỉnh Đồng Nai. Bằng việc kết hợp phương pháp điều tra định lượng trên 1.054 học sinh và thực nghiệm tham vấn theo liệu pháp Nhận thức – Hành vi (CBT), luận án đã chứng minh thực trạng tự đánh giá thấp ở nhóm học sinh nghiện internet cũng như mối tương quan đặc thù giữa mức độ nghiện nặng với các khía cạnh cảm xúc và gia đình. Các phát hiện thực chứng và hệ thống 04 nhóm giải pháp được đề xuất trong công trình đóng góp tư liệu quan trọng cho nghiên cứu lý luận tâm lý học lứa tuổi và cung cấp cơ sở thực hành cho công tác tham vấn tâm lý học đường tại Việt Nam.