Chương 1 đã cho chúng ta thấy được cái nhìn tổng quan về đề tài “Dự án nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng ống hút tinh bột xanh của các cơ sở kinh doanh tại TP.HCM thúc đẩy kinh tế cộng đồng Sadec Đồng Tháp” dựa trên lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, sử dụng các phương pháp định tính, định lượng, đồng thời đưa ra các câu hỏi nghiên cứu và cấu trúc theo một số bài nghiên cứu cơ bản. Bên cạnh đó đề tài nghiên cứu giúp ta thấy được ý nghĩa của đề tài trong thực tiễn và khoa học và các yếu tố đó tác động đến ý định sử dụng ống hút tinh bột xanh. 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các khái niệm nghiên cứu 2.1 Ý định Theo Dương Thị Hoài Nhung và cộng sự (2022) ý định là một trong những yếu tố được sử dụng để mà đánh giá hành vi của cá nhân có khả năng thực hiện, lý thuyết người tiêu dùng đã chỉ ra rằng họ phải trải qua giai đoạn có ý định mua trước khi đi tới quyết định mua sản phẩm hay một cách nói khác là giữa ý định và hành vi mua hàng luôn tồn tại mối quan hệ nhân quả. Trong đó, nhận thức tiêu dùng là bước tiến dẫn đến hành vi mua hàng.
Ý định là yếu tố tạo động lực, kích thích một cá nhân có thể sẵn sàng thực hiện hành vi cụ thể và ý định bao gồm những yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của từng cá nhân, yếu tố này còn cho thấy về mức độ sẵn sàng cùng với sự cố gắng của các cá nhân sẽ bỏ ra để có thể thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Ý định chính là một nhân tố thể hiện khả năng thực hiện một hành vi trong tương lai của cá nhân cụ thể (Alexander, 2014). Ý định bao gồm hàm của ba nhân tố: đầu tiên là yếu tố các thái độ đối với hành vi, thứ hai là quy chuẩn chủ quan, cuối cùng không thể thiếu là nhận thức kiểm soát hành vi (O'Neill, 1988). Trong lúc thực hiện việc chọn các phương thức mua hàng thì khách hàng sẽ đánh giá các phương thức lựa chọn và có ý định mua.
Đa số các quyết định của khách hàng là họ sẽ lựa chọn mặt hàng của thương hiệu mà họ thích nhất. Theo Kotler (2001), ý định mua là một trạng thái tâm lý của khách hàng khi họ có ý định mua một sản phẩm hoặc sử dụng dịch vụ cụ thể trong tương lai gần hoặc xa. Tóm tắt lại, ý định mua sản phẩm thường được hiểu là khả năng mua một sản phẩm hay sử dụng dịch vụ nào đó trong tương lai xa hoặc gần.2 Tiêu dùng xanh Tiêu dùng xanh là một phần giúp cấu thành của tiêu dùng bền vững, trong đó cần nhấn mạnh chủ yếu đến yếu tố môi trường. Các hành vi tiêu dùng được xem nôm na là tập trung chủ yếu vào tái chế và tiết kiệm năng lượng, cũng như mua sản phẩm thân thiện với thiên 10 nhiên và tránh các sản phẩm gây hại đến môi trường (Lê Chi Công và Trần Hoàng Tuyết Hương, 2023).
Theo Sisira (2011) tiêu dùng xanh và với quan điểm là một quá trình thông qua những hành vi xã hội như: mua các loại thực phẩm hữu cơ, tái sử dụng, hạn chế dùng thừa và sử dụng hệ thống giao thông thân thiện. Bên cạnh đó, theo Eliott (2013), từ những năm 2000 thì tiêu dùng xanh đã là hành vi được công nhận rộng rãi và trở thành cơ hội kinh doanh thương mại cho nhiều lĩnh vực khác nhau. Ngoài ra, đây chính là các sản phẩm tạo điều kiện thuận lợi cho mục tiêu dài hạn về bảo vệ, bảo tồn môi trường. Engle (2010), nhiều khái niệm về hành vi tiêu dùng xanh, cơ bản được phát triển dựa trên khái niệm hành vi tiêu dùng và các khái niệm sản phẩm xanh.
Trong một bài báo cáo của Liên hợp quốc định nghĩa về phát triển bền vững trong “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) chính là sự phát triển đáp ứng về những yêu cầu của hiện tại, nhưng đồng thời điều này không gây trở ngại cho những nhu cầu của các thế hệ mai sau. Đặc biệt, những thay đổi về môi trường cũng như khí hậu khiến ở Trái đất phải hứng chịu những hậu quả cực kì nặng nề. Các vấn đề về môi trường hiện nay trở nên ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống và cả sự phát triển bền vững quốc gia. Hơn 99,9% các nghiên cứu đồng thuận rằng biến đổi khí hậu là do con người gây ra theo Lynas và cộng sự (2021), chính là nguyên nhân khai thác quá mức nguồn tài nguyên và tiêu dùng thực phẩm xanh là một trong những hành vi tiêu dùng xanh (Nguyễn Giang Châu và cộng sự, 2023).
Vậy, tiêu dùng xanh giúp khách hàng không sử dụng các hàng hóa gây ảnh hưởng đến môi trường và còn quyết định mua các sản phẩm thân thiện với môi trường và các sản phẩm tái chế.3 “Xanh” và Sản phẩm xanh Mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trong những năm trở lại đây, nhưng điều này cũng không có bất kỳ định nghĩa và phép đo nào liên quan đến chủ đề này. Sự chồng chéo giữa các định nghĩa tồn tại ở các khái niệm khác là kết quả cho sự tranh cãi và bất đồng giữa các học giả (Luzio và Lemke, 2013). Nói một cách khác, các học giả sử dụng thuật ngữ và những định nghĩa để có thể phù hợp với mục đích nghiên cứu của mình. Ví dụ, Doorn 11 và Verhoef (2011) họ đã sử dụng thuật ngữ “chủ nghĩa môi trường” trong một bài nghiên cứu của chính mình về sự sẵn lòng mua sản phẩm hữu cơ của khách hàng và trong một bài nghiên cứu về ý định thân thiện với môi trường tự nhiên của khách hàng trong ngành khách sạn (Doorn và Verhoef, 2011).
Trong đó, thuật ngữ “xanh” được Olson (2013) sử dụng trong bài nghiên cứu của mình về tác động của sự đánh đổi đối với các sản phẩm xanh (Olson, 2013). Nghiên cứu của chúng tôi đã được thông qua các thuật ngữ, “xanh” và “thân thiện với môi trường” đều liên quan đến việc làm giảm thiểu các tác động đến môi trường, tiết kiệm năng lượng và tài nguyên thiên nhiên, tránh sử dụng các hóa chất gây ô nhiễm và hủy hoại đến tự nhiên (Johnstone và Tan, 2015). Trên thực tế, thuật ngữ “sản phẩm xanh” đã được sử dụng rộng rãi trong những năm gần đây khi các hiện tượng hiệu ứng nhà kính, sự nóng lên toàn cầu và suy thoái môi trường tự nhiên đang diễn ra (Srivastava, 2007). Mặc dù thuật ngữ này lần đầu tiên được sử dụng trong các lĩnh vực sản xuất xanh và mua sắm xanh, nhưng nó đã được chấp thuận thông qua toàn bộ chuỗi cung ứng (Srivastava, 2007).
Sản phẩm xanh là sản phẩm thân thiện với môi trường tự nhiên, ít ảnh hưởng đến tự nhiên và sản phẩm xanh có vòng đời xanh (Kumar và Ghodeswar, 2015). Hiểu theo cách khác, thì ở mọi giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm xanh, từ thiết kế, quyết định về nguyên liệu thô đến quá trình sản xuất, bảo quản sản phẩm, vận chuyển, sử dụng và sau sử dụng sản phẩm, sản phẩm xanh phải có ít tác động đến tự nhiên. Các nghiên cứu trước cho thấy được rằng sử dụng các sản phẩm xanh không chỉ giảm thiệt hại đến tự nhiên mà còn cải thiện sức khỏe con người, cải thiện khả năng tái chế (Azvedo và cộng sự, 2011). Hơn nữa, các tác giả này cũng nhận định rằng theo thời gian, lợi ích khác mà khách hàng thu có được là các lợi ích trên khi sử dụng sản phẩm xanh chính là lợi ích kinh tế.
Ví dụ, vì khả năng tái chế được cải thiện, chi phí môi trường, chi phí xử lý chất thải kinh doanh đều giảm (Azvedo và cộng sự, 2011). Sản phẩm xanh có thể chia thành 4 loại: (1) Sản phẩm được tạo ra từ các vật liệu thân thiện với môi trường tự nhiên; (2) Sản phẩm đem đến những giải pháp an toàn đến với môi trường và sức khỏe khách hàng thay cho các sản phẩm độc hại truyền thống; (3) Sản phẩm xanh giảm tác động đến môi trường trong quá trình sử dụng (ít chất thải, sử dụng năng lượng tái sinh, ít chi phí bảo trì); (4) Sản phẩm xanh tạo ra một môi trường thân thiện và an toàn đối với sức khỏe (Hồ Thị Hoài Trinh và cộng sự, 2023). Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu này, 12 chúng tôi không đề cập đến bất kỳ loại sản phẩm xanh cụ thể nào. Có rất nhiều nghiên cứu trước được thực hiện dựa trên thuật ngữ “xanh” và “sản phẩm xanh”.
Ví dụ, vào năm 2014, bằng cách sử dụng thuật ngữ “xanh”, theo Lasuin đã chứng minh rằng mối quan tâm về môi trường tự nhiên và hình ảnh bản thân ảnh hưởng một cách tích cực đến ý định mua hàng xanh của sinh viên các trường đại học ở Malaysia. Tuy nhiên, hầu hết các mục đích của các nghiên cứu trước đó là để xác định lý do tại sao mọi người không thực sự mua các sản phẩm xanh (Hà Minh Trí, 2022). Các nhà nghiên cứu đã không ngừng cố gắng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm xanh. Vào năm 2015, Johnstone và Tan (2015) đã kết hợp sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu và lý thuyết trung hòa để điều tra lý do tại sao người dân tại New Zealand không tiêu dùng sản phẩm xanh (Johnstone và Tan, 2015).
Họ phát hiện ra rằng mọi người thường có xu hướng tìm lý do để chối bỏ trách nhiệm của họ về việc không mua sản phẩm xanh, từ chối tổn thương (lợi ích), thu hút sự trung thành cao hơn của khách hàng, bảo vệ ý thức về bản thân và gắn bó với các thương hiệu quen thuộc. Vào năm 2016, bằng cách sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Theo Maniatis (2016) nhận thức về sản phẩm xanh, kiến thức và cam kết về sản phẩm xanh hình thành từ bốn yếu tố là ý thức về lợi ích môi trường và kinh tế, độ tin cậy xanh và diện mạo xanh. Dựa trên bốn yếu tố này, người dân tại Athens tin dùng sản phẩm xanh.
Trong khi đó, Suki (2013) cho rằng nhận thức về các sản phẩm xanh như: hình ảnh thương hiệu, giá cả sản phẩm và các mối quan tâm về tự nhiên có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến quyết định mua các sản phẩm xanh của người dân tại Malaysia. Có nhiều nghiên cứu khác trước đó liên quan đến chủ đề “quyết định mua sản phẩm xanh”.