CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về cho vay tiêu dùng tại các Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm và phân loại CVTD 1. Khái niệm Có rất nhiều khái niệm khác nhau về cho vay tiêu dùng của Ngân hàng, “Cho vay tiêu dùng là quan hệ kinh tế giữa một bên là ngân hàng và một bên là cá nhân người tiêu dùng, trong đó ngân hàng chuyển giao tiền cho khách hàng với nguyên tắc khách hàng sẽ hoàn trả gốc và lãi vào một thời điểm xác định trong tương lai” (Nguyễn Thanh Minh Phúc, 2012).
“Cho vay tiêu dùng là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu và mua sắm tiện nghi sinh hoạt gia đình nhằm nâng cao đời sống dân cư. Khách hàng vay là những người có thu nhập không cao nhưng ổn định, chủ yếu là công nhân viên chức hưởng lương và có việc làm ổn định và số lượng khách hàng thì rất đông” (PGS. Nguyễn Minh Kiều, 2014). Lê Thị Mận (2010), CVTD là một hình thức tín dụng tài trợ cho nhu cầu sinh hoạt của dân cư ( cá nhân và hộ gia đình) với các chi phí về vật chất như: nhà ở, phương tiện đi lại, đồ dùng cá nhân hoặc các dịch vụ như: giáo dục, y tế, du lịch, văn hóa, nghệ thuật.
Qua đó, có thể tổng kết về khái niệm CVTD như sau: CVTD là các khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một trong những nghiệp vụ của Ngân hàng chỉ mối quan hệ về kinh tế, theo đó Ngân hàng sẽ chuyển cho khách hàng một khoản giá trị(tiền) với những điều kiện mà hai bên đã thỏa thuận , nhằm trang trải cho các nhu cầu trong cuộc sống như: nhà ở, phương tiện đi lại, du lịch, y tế… giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hóa, dịch vụ trước khi họ có đủ khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một mức sống cao hơn. SVTH: Bùi Thị Thảo Huyền 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Sỹ Minh 1.
Phân loại Căn cứ vào mục đích cho vay - Cho vay tiêu dùng cư trú: Là các khoản cho vay nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng, mua sắm hoặc cải tạo nhà ở của cá nhân, hộ gia đình. - Cho vay tiêu dùng không cư trú: Là các khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm phương tiện, đồ dùng, du lịch, học hành hoặc giải trí… Căn cứ vào hình thức cho vay - Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Là các khoản CVTD trong đó Ngân hànggặp trực tiếp khách hàng để tiến hành cho vay cũng như thu nợ. - Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Là hình thức cho vay trong đó NH mua các khoản nợ phát sinh của các doanh nghiệp đã bán chịu hàng hoá hoặc đã cung cấp các dịch vụ cho người tiêu dùng, hình thức này NH cho vay thông qua các doanh nghiệp bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. Căn cứ vào phương thức hoàn trả: - CVTD trả góp: Đây là hình thức CVTD trong đó người đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định có giá trị lớn và thu nhập từng định kỳ của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay.
- CVTD phi trả góp: Theo phương thức này, tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng một lần khi đến hạn, áp dụng với các khoản vay có giá trị nhỏ, thời hạn ngắn. - CVTD tuần hoàn: Là các khoản CVTD trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn được thỏa thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng. Đối tượng và điều kiện của CVTD - Khách hàng vay là cá nhân và các hộ gia đình.
- Có thu nhập ổn định, đủ đảm bảo khả năng trả nợ cho Ngân hàng. SVTH: Bùi Thị Thảo Huyền 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Sỹ Minh - Có tài sản thế chấp cầm cố dùng để đảm bảo thuộc sở hữu của chính người vay hoặc thân nhân có tài sản thế chấp, cầm cố bảo lãnh. - Có mục đích sử dụng vốn phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hợp pháp.
- Trường hợp không thế chấp tài sản: Khách hàng là cán bộ, công nhân viên đang công tác tại các đơn vị có trụ sở trên địa bàn, có bảo lãnh của đơn vị công tác. Đặc điểm của CVTD - Bản chất của CVTD là ứng trước, trả dần, là động lực để người vay kiếm thêm thu nhập và tiết kiệm, đảm bảo nghĩa vụ nợ, lo dành dụm cho những mục tiêu lớn. không chi tiêu vô ích. - Quy mô của từng hợp đồng vay thường nhỏ, nên chi phí tổ chức cho vay cao.
Vì vậy, lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay trong lĩnh vực thương mại, công nghiệp. - Do mục đích vay nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình chứ không nhằm mục đích kinh doanh nên thường phụ thuộc vào nhu cầu, tính cách của người tiêu dùng và chu kỳ kinh tế. Trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế người tiêu dùng thường có cái nhìn lạc quan về tương lai vì vậy họ thường chi tiêu nhiều và nhu cầu vay ngân hàng cũng tăng lên. Đồng thời, vào các dịp cuối năm hoặc lễ, Tết, nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao nên các khoản vay cũng từ đó tăng theo.
- Nhu cầu tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co dãn với lãi suất. Chủ yếu là cho vay trả góp vốn và lãi hàng tháng. Thông thường, người đi vay quan tâm đến số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu. - Mức thu nhập và trình độ học vấn là 2 biến số có quan hệ rất mật thiết tới nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng, ảnh hưởng rõ rệt đến hạn mức vay.
Những khách hàng có mức thu nhập ổn định và cao hơn mức bình quân thường có xu hướng vay cao hơn tổng thu nhập hằng năm của họ. Những người có trình độ học vấn cao (thông thường là những người có nhiều năm đào tạo ở bậc trên phổ thông đồng thời là trụ cột gia đình) thường quyết định vay tiền trên cơ sở cân nhắc kĩ lưỡng thu nhập của mình. Đồng thời, đây cũng là tiêu chí quan trọng để các NHTM quyết định xét duyệt cho vay. SVTH: Bùi Thị Thảo Huyền 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Hồ Sỹ Minh - Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao. Vì là khách hàng cá nhân nên không thể sử dụng bảng cân đối kế toán hay bảng báo cáo kết quả kinh doanh như các doanh nghiệp để chứng minh thu nhập mà chỉ dựa vào tiền lương và cũng không có bằng chứng rõ ràng. - Nguồn trả nợ của người đi vay có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng, và kinh nghiệm đối với công việc của những người này.Nếu người vay bị chết, ốm hoặc mất việc làm NH sẽ rất khó thu lại được nợ. Do đó, các ngân hàng thường yêu cầu lãi suất cao, yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hàng hóa đã mua.
Xác suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn cho vay đầu tư kinh doanh. - Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định, chủ yếu dựa vào cảm nhận và kinh nghiệm suy đoán của cán bộ tín dụng, song yếu tố này lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay. Vai trò của CVTD Đối với người tiêu dùng: Người tiêu dùng là người được hưởng lợi trực tiếp và nhiều nhất những lợi ích mà hình thức cho vay tiêu dùng mang lại. Xã hội ngày càng phát triển có tác động ngày càng mạnh đến nhu cầu tiêu dùng của người dân, tuy nhiên không phải lúc nào họ cũng có khả năng thỏa mãn nhu cầu này.
Nhiều khi người dân chỉ có thể hưởng thụ những nhu cầu này sau khi có sự tích lũy về tài chính. Vì vậy, CVTD của Ngân hàng giúp người dân kết hợp nhu cầu hiện tại với khả năng thanh toán trong tương lai. Qua đó, họ sẽ được hưởng những tiện nghi sinh hoạt, nhu cầu đi lại, những điều kiện sống tốt hơn, tạo động lực lớn cho họ làm việc, tiết kiệm và nuôi dưỡng con cái. có đủ khả năng trang trải cho những trường hợp đột xuất, cấp bách như chi tiêu cho dịch vụ giáo dục, y tế.
Tuy nhiên, nếu lạm dụng thì CVTD rất tai hại vì nó có thể làm cho người đi vay chi tiêu vượt quá mức cho phép, làm giảm khả năng tiết kiệm và chi tiêu trong tương lai. Vì vậy,cần phải tính toán nhu cầu chi tiêu hợp lý, đảm bảo không nằm ngoài khả năng chi trả sau này. SVTH: Bùi Thị Thảo Huyền 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Sỹ Minh Đối với nhà sản xuất: CVTD nhằm mục đích chi tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ trong nước nên có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển.
Qua đó, làm gia tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm và tạo sự cạnh tranh cao hơn giữa các nhà sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm với sự đa dạng về mẫu mã, chủng loại cũng như chất lượng. Góp phần thúc đẩy tăng trưởng và tạo sự năng động cho nền kinh tế. Đối với Ngân hàng thương mại: Cho vay tiêu dùng là một phương thức đa dạng hoá các lĩnh vực đầu tư của Ngân hàng. Hoạt động CVTD của Ngân hàng đối với khách hàng cá nhân có quy mô nhỏ nhưng số lượng khách hàng tiềm năng và sự đa dạng của nhu cầu là vô cùng lớn.
Do đó, vừa nâng cao thu nhập, vừa phân tán rủi ro. Thông qua hoạt động này, các Ngân hàng sẽ mở rộng được quy mô sản xuất, đa dạng hóa chất lượng sản phẩm, dịch vụ nhằm nâng cao sự cạnh tranh của mình trên thị trường và thu hút được nhiều khách hàng cá nhân sử dụng các dịch vụ khác của Ngân hàng. CVTD cũng là công cụ giúp Ngân hàng mở rộng được quan hệ với khách hàng, nhiều khách hàng cũng sẽ gửi tiền vào đó khi biết sau này mình có thể vay lại trong trường hợp cần thiết.