Chương 1 của báo cáo sẽ trình bày các nội dung liên quan đến: lý do hình thành đề tài, mục tiêu của đề tài, phạm vi đề tài, cơ sở lý thuyết và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. - Chương 2: Phân tích tình hình hoạt động của MDBank và thị trường cho vay mua xe máy trả góp. Chương 2 trình bày các nội dung liên quan đến việc phân tích các vấn đề: tình hình hoạt động của MDBank và thị trường cho vay mua xe trả góp bao gồm đối tượng khách hàng, nhu cầu, xu hướng, … từ đó xác định những vấn đề mà kế hoạch marketing hướng đến giải quyết. - Chương 3: Kế hoạch marketing cho dịch vụ cho vay mua xe máy trả góp của MDBank.
Chương 3 tập trung phân khúc và chọn thị trường mục tiêu, kết hợp với các phân tích ở chương 2 sẽ đề xuất một giải pháp để giải quyết các vấn đề đặt ra là xây dựng một kế hoạch marketing cho dịch vụ cho vay mua xe trả góp. - Chương 4: Kết luận và kiến nghị. Chương 4 của báo cáo sẽ tóm tắt lại những kết quả chính của khóa luận, phân tích ý nghĩa, những giá trị thực tiễn của đề tài, những khía cạnh còn hạn chế và đưa ra các nhận định, bình luận liên quan. Thời gian thực hiện đề tài Đề tài được thực hiện trong vòng 4 tháng.
Bắt đầu từ ngày 05/12/2010 đến ngày 08/04/2012. 11 CHƯƠNG II. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG VÀ MÔI TRƯỜNG MARKETING TẠI THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC 2. Giới thiệu Ngân Hàng TMCP Phát Triển Mê Kông 2.
Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Mê Kông (MDBank) có tiền thân là trung tâm tín dụng Mỹ Xuyên được thành lập và hoạt động từ năm 1989, theo quyết định của ủy ban nhân dân thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang. Đến năm 1992, trung tâm tín dụng Mỹ Xuyên đã chuyển thể thành ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Mỹ Xuyên với số vốn điều lệ là 303 triệu đồng vào năm 1992. Để mở rộng mạng lưới hoạt động trên toàn quốc, ngân hàng đã tiến hành chuyển đổi mô hình hoạt động sang mô hình ngân hàng đô thị vào tháng 9 năm 2008. Sau khi chuyển đổi mô hình hoạt động, ngân hàng vẫn tập trung đầu tư tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn vì đây là thế mạnh của ngân hàng được khẳng định qua hơn 17 năm hoạt động tại tỉnh An Giang.
Ngày 9/12/2010: Ngân hàng TMCP Phát Triển Mê Kông tự hào là một trong số ít các ngân hàng tăng vốn điều lệ thành công lên 3000 tỷ đồng. Hiện nay, ngân hàng đang có đối tác chiến lược là tập đoàn đầu tư tài chính Fullerton Financial Holding Pte.Ltd với 100% vốn của Temasek Holdings Pte. Với định hướng và với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của tập thể cán bộ, nhân viên cùng với định hướng phát triển phù hợp, MDBank đã từng bước khẳng định thương hiệu trên thị trường tài chính. Mô hình tổ chức và bộ máy quản lý Cơ cấu tổ chức của MDBank được tổ chức theo mô hình: Hội sở – Chi nhánh và công ty con– Phòng giao dịch – Quỹ tiết kiệm.
12 Hội sở chính Chi Nhánh Công ty trực thuộc Phòng giao dịch dị Quỹ Tiết Kiệm Hình 2. 1: Mô hình tổ chức MDBank Hiện nay, MDBank có 47 điểm giao dịch trên toàn quốc ốc bao gồm g 15 chi nhánh (hai chi nhánh tại An Giang, một m chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh, Cần C Thơ, Sa Đéc – Đồng ng Tháp, Long An, Đồng Nai, Bình Dương, Lâm Đồng, ng, Cà Mau, Kiên Giang, Đà Nẵng, ng, Nha Trang, Hải H Phòng và Hà Nội), i), 12 phòng giao dịch, 20 qquỹ tiết kiệm trên toàn quốc. Hệệ thống thố quản trị điều hành của MDBank gồm ồm được tổ chức như hình 2.
2: Bộ máy quản lý MDBank Đại hội đồng cổ đông đ (ĐHĐCĐ): là cơ quan có thẩm m quyền quyề cao nhất của ngân hàng, quyết định nh các vấn vấ đề thuộc thẩm quyền theo quy định ịnh của củ pháp luật và điều lệ của ngân hàng. Hội đồng quản ản trị (HĐQT): là cơ quan quản trị ngân hàng, có toàn quyền quy nhân danh ngân hàng đểể quyết quy định các vấn đề liên quan đến mục ục đích, quyền lợi của ngân hàng, trừ những ững vấn v đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ. HĐQT H giữ vai trò 13 định hướng chiến lược, lập kế hoạch hoạt động hàng năm; chỉ đạo và giám sát hoạt động của ngân hàng. Ban kiểm soát: có nhiệm vụ kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh, quản trị và điều hành của ngân hàng; giám sát hoạt động của hệ thống kiểm tra và kiểm toán nội bộ của ngân hàng; thẩm định báo cáo tài chính hàng năm; báo cáo cho ĐHĐCĐ tính chính xác, trung thực, hợp pháp về báo cáo tài chính của ngân hàng.
Tổng giám đốc: là người chịu trách nhiệm trước HĐQT, trước pháp luật về hoạt động hàng ngày của ngân hàng. Giúp việc cho tổng giám đốc là các phó tổng giám đốc, kế toán trưởng và các giám đốc bộ phận nghiệp vụ. Các thành tựu đạt được trong thời gian qua MDBank được NHNN xếp loại A (đơn vị hoạt động an toàn, có hiệu quả) nhiều năm liền. Căn cứ quy chế xếp loại các tổ chức tín dụng của NHNN, MDBank đã khẳng định được là một ngân hàng mạnh trong suốt nhiều năm qua.
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong giai đoạn 2008 – 2009 đã ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam và tình hình kinh doanh của MDBank. MDBank được xếp loại A liên tục từ năm 2005 đến 2007 và được xếp loại B trong năm từ năm 2008. Điểm số về chất lượng hoạt động của MDBank trong giai đoạn 2005 – 2010 được thể hiện trong Bảng 2. 1: Bảng điểm đánh giá xếp loại của MDBank giai đoạn 2005 – 2010 Chỉ tiêu Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Điểm số 90 95 95 81 75 79 Xếp loại A A A B B B MDBank được khách hàng đánh giá là ngân hàng thân thiện với khách hàng, có đội ngũ cán bộ nhân viên nhiệt tình, nhất là tinh thần phục vụ đối với khách hàng thuộc vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh An Giang.
MDBank đã được ủy ban nhân dân tỉnh An Giang trao tặng “Doanh nghiệp tiêu biểu năm 2006” và “Doanh nghiệp tiêu biểu năm 2007”. 14 Các hoạt động xã hội (tài trợ tiếp sức mùa thi, trao học bổng cho sinh viên nghèo, trao tặng nhà tình thương, nhà đại đoàn kết, tặng máy vi tính cho trường trẻ em khuyết tật tỉnh An Giang,…) của MDBank trong những năm gần đây trên địa bàn tỉnh An Giang đã mang lại hiệu quả rất thiết thực và đã được các cấp chính quyền và nhân dân trong tỉnh An Giang đánh giá cao. Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh Từ năm 2007 đến thời điểm 2011, ngân hàng đã đạt được kết quả khả quan trong hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn huy động và tín dụng tăng trưởng với tốc độ khá cao.
Tài sản và nguồn vốn tăng trưởng mạnh. Tổng tài sản tăng trưởng trên 250% trong năm 2007 và tăng trưởng trên 20% trong năm 2010 và 2011. Tỉ suất lợi nhuận của ngân hàng được giữ khá ổn định. Tính đến hết ngày 31/12/2010, số dư huy động đạt hơn 13,300 tỷ đồng, tức đạt 159% so với kế hoạch và tăng 826% so với năm 2009; lợi nhuận trước thuế là 212 tỷ, tăng 75% so với năm 2009.
Tỉ suất lợi nhuận của ngân hàng được giữ khá ổn định. Lợi nhuận trên cổ phần được duy trì trên 1,000 đồng/cổ phần trong các năm 2007, 2008. Do năm 2009 nền kinh tế có nhiều khó khăn đồng thời với việc tăng vốn từ 500 tỉ đồng lên 1,000 tỉ đồng vào giai đoạn cuối năm nên lợi nhuận trên cổ phần chỉ đạt 997 đồng/cổ phần nhưng đã phục hồi trên 1,000 đồng/cổ phần trong năm 2010. Triển vọng phát triển của thị trường cho vay trả góp Thị trường xe máy Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển rất nhanh.
Xe máy vẫn là lựa chọn hàng đầu của đa số gia đình Việt Nam bởi sự phù hợp về giá cả, lưu thông tiện lợi trong điều kiện hệ thống hạ tầng chưa hoàn chỉnh. Các nhãn xe chính được sử dụng ở Việt Nam là Honda và Yamaha (chiếm hơn 50% số lượng xe máy lưu hành), ngoài ra còn có các nhãn hiệu khác như Piaggio (Vespa), SYM, Kawasaki, Suzuki. 15 Thị trường xe máy tăng trưởng bình quân trên 7,5% trong 3 năm qua (tổng số lượng xe máy tiêu thụ trên 3 triệu xe/năm) và sức mua từ người tiêu dùng ngày càng tăng khi trong 5 năm tới GDP VN tăng gấp đôi lên đến US$ 2,100 năm 2015. Tuy nhu cầu mua xe máy cao nhưng khách hàng chủ yếu mua và thanh toán trực tiếp một lần.
Khái niệm trả góp và thị trường cho vay mua xe máy trả góp là thị trường còn rất mới tại Việt Nam và đây là thị trường rất tiềm năng. Số lượng xe máy tăng 7.5% trong 3 năm qua nhưng cho vay trả góp tăng 63% (Nguồn: KPMG). 6000 5000 4000 3000 Số lượng xe bán ra (nghìn chiếc) Số lượng cho vay xe trả 2000 góp (nghìn chiếc) 1000 0 Hình 2. 3: Độ tăng trưởng doanh số bán xe và doanh số mua xe trả góp 2.
Phân tích môi trường marketing tại thị trường trong nước 2. Phân tích môi trường vĩ mô 2.1 Môi trường dân số học Tổng số dân của Việt Nam năm 2009 là 85,789,573 người. Như vậy, Việt Nam là nước đông dân thứ 3 ở Đông Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin) và đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thế giới. Số người sống ở khu vực thành thị là 25,374,262 người, chiếm 29,6%, và ở khu vực nông thôn là 60,415,311 16 người, chiếm 70,4% tổng dân số.
Dân số nam là 42,482,549 người, chiếm 49,5% và nữ là 43,307,024 người, chiếm 50,5% tổng dân số (Tổng cục thống kê, 2011). Theo kết quả điều tra trên, Việt Nam đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”, thời kỳ các nhóm trong độ tuổi lao động cao gấp đôi nhóm dân số trong độ tuổi phụ thuộc. So với năm 1999, tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi giảm từ 33% xuống còn 25% năm. Trong khi đó, tỷ trọng dân số nhóm 15 – 59 tăng từ 58% lên 66% vào năm 2009.
Nhóm dân số từ 60 trở lên tăng từ 8% lên 9%. Thời kỳ này chỉ diễn ra 1 lần trong một thế hệ, thường chỉ kéo dài trong vòng 15 - 30 năm hoặc 40 năm (tùy thuộc vào việc kiềm chế mức sinh).