mở đầu và cũng là khâu kết thúc của quá trình sản xuất và lƣu thông hàng hoá. Chính vì vậy mà các phƣơng tiện thanh toán luôn luôn đƣợc đổi mới hiện đại để phù hợp với nhịp độ tăng trƣởng không ngừng của sản xuất - lƣu thông hàng hoá. Nền sản xuất hàng hoá càng phát triển thì nhu cầu của con ngƣời ngày càng cao và khối lƣợng hàng hoá, dịch vụ ngày càng đa dạng cả về khối lƣợng và chất lƣợng, các quan hệ thƣơng mại đƣợc mở rộng ra trên phạm vi quốc tế thì việc thanh toán bằng tiền mặt gặp nhiều trở ngại và bộc lộ những hạn chế nhất định. Trƣớc hết là thanh toán dùng tiền mặt có độ an toàn không cao, với khối lƣợng hàng hoá, dịch vụ giao dịch lớn thì việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt sẽ không an toàn cho cả ngƣời trả tiền và ngƣời nhận tiền do trong quá trình thanh toán phải có sự kiểm đếm, bảo quản, vận chuyển tiền.
Tiếp đó, khi quan hệ thanh toán mở rộng ra phạm vi quốc tế thì chi phí về thủ tục chuyển đổi tiền để thanh toán chi trả sẽ rất lớn vì khoảng cách giữa ngƣời mua và ngƣời bán nhiều khi ở rất xa nhau trong khi thời gian để ngƣời mua mang tiền đến trả bị khống chế, điều này dẫn đến sự kìm hãm sản xuất- lƣu thông hàng hoá. Hơn nữa, thanh toán bằng tiền mặt hạn chế khả năng tạo tiền của NHTM, gây ra nạn làm tiền giả. Nền kinh tế luôn có nhu cầu tiền mặt để thanh toán, chi tiêu gây sức ép giả tạo về sự khan hiếm tiền mặt trong nền kinh tế, làm cho giá cả của hàng hoá có khả năng tăng cao (không phản ánh giá trị thực của hàng hoá) gây khó khăn cho ngân hàng nhà nƣớc (NHNN) trong việc điều hành chính sách tiền tệ. 4 z Ngoài ra, còn một vấn đề quan trọng nữa là chi phí rất lớn mà NHNN phải bỏ ra để in tiền, vận chuyển, bảo quả tiền mặt.
Từ thực tế khách quan này, và trong thời kỳ nền kinh tế chuyển sang một một giai đoạn phát triển mạnh mẽ tiền mặt không thể đáp ứng nhu cầu thanh toán của toàn bộ nền kinh tế đòi hỏi phải có những hình thức thanh toán mới ra đời tiên tiến hơn, hiện đại hơn phù hợp đáp ứng nhu cầu sản xuất lƣu thông hàng hoá. Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ra đời đã khắc phục những hạn chế của thanh toán dùng tiền mặt, đồng thời thúc đẩy sự phát triển sản xuất và lƣu thông hàng hoá trong nền kinh tế. Phƣơng thức thanh toán không dùng tiền mặt đã có từ năm 3000 trƣớc công nguyên trong khi tuổi đời của những chiếc thẻ thanh toán, tính cả lúc nó manh nha dƣới dạng gỗ, cũng chỉ mới đƣợc 200 năm. Tuy nhiên, sự ra đời của chiếc thẻ thanh toán tạo nên một bƣớc ngoặt lớn trong lịch sử tiền tệ.
Manh nha Chiếc thẻ thanh toán đầu tiên trong lịch sử loài ngƣời có lẽ là thẻ gỗ của những ngƣời Tallymen ở thế kỷ 18. Thời ký này, ngƣời Tallymen bán trang phục cho khách hàng bằng cách trả góp hàng tuần. Hồ sơ trả tiền của khách đƣợc lƣu giữ và tính toán trên một miếng gỗ, tiền nợ đƣợc ghi trên một đầu và tiền trả hàng tuần đƣợc khắc trên đầu kia. Đến năm 1914 thì sự ra đời của phƣơng thức thanh toán bằng thẻ ngân hàng đƣợc ghi nhận.
Khi đó, công ty điện báo hàng đầu Hoa Kỳ là Western Union đã cung cấp một dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. Theo đó, công ty này phát hành một tấm thẻ bằng kim loại và một số thông tin đƣợc in nổi trên thẻ, bao gồm 2 chức năng cơ bản là: - Giúp nhận diện và phân biệt khách hàng; - Cung cấp và cập nhật dữ liệu về khách hàng, bao gồm các thông tin về tài khoản và thông tin về giao dịch thực hiện. Các tổ chức khác dần nhận ra những giá trị của loại hình dịch vụ nói trên của Western Union và chỉ trong một vài năm sau đó, rất nhiều đơn vị nhƣ nhà ga, khách sạn cũng nhƣ các cửa hàng trên khắp nƣớc Mỹ đã lựa chọn 5 z cung cấp dịch vụ trả chậm cho khách hàng của mình theo phƣơng thức của Western Union. Trong đó, Tập đoàn xăng dầu của Mỹ cho ra đời tấm thẻ mua xăng đầu tiên vào năm 1924, cho phép ngƣời dân sử dụng thẻ này để mua xăng, dầu tại các cửa hàng trên toàn quốc.
Tấm thẻ thanh toán bằng nhựa nhƣ ngày nay ra đời vào năm 1950, ngƣời sáng lập ra công ty Dinners Club là Frank X. McNamara, một doanh nhân ngƣời Mỹ đã kể lại rằng, Có một lần sau khi dùng bữa tối tại một nhà hàng ở New York, ông Namara quên không mang theo tiền mặt. Ông phải gọi điện thoại cho vợ mình mang tiền đến để thanh toán. Tình trạng khó xử lần đó khiến ông nảy ra ý tƣởng tạo một phƣơng tiện chi trả không dùng tiền mặt để tiện cho việc thanh toán nếu gặp phải trƣờng hợp tƣơng tự.
Chính vì thế mà chiếc thẻ thanh toán bằng nhựa ra đời, công ty của Frank X. McNamara cho phát hành 200 thẻ đầu tiên, và tất nhiên thứ sản phẩm “xa xỉ” này chỉ để dành cho những ngƣời có tiếng tăm trong xã hội New York. Tính năng duy nhất của nó là thanh toán hoá đơn ở 27 nhà hàng sang trọng của New York bây giờ. Đó là những chiếc thẻ có tên là Diner‟s Club (câu lac bộ ăn uống).
Sau khi thẻ Diners Club ra đời năm 1950 thì tính đến năm 1955, hàng loạt thẻ mới ra đời nhƣ Trip Charge, Golden Key, Golden Club, Esquire Club, … Đến năm 1958, Carde Balnche và American Express ra đời và thống lĩnh thị trƣờng thẻ. Riêng American Express tự phát hành thẻ và trực tiếp quản lý chủ thẻ, đây là thẻ du lịch và giải trí (T&E) lớn nhất thế giới. Không chỉ với chức năng chi trả, tấm thẻ này còn đƣợc ngƣời tiêu dùng xem là biểu tƣợng địa vị - giấy chứng nhận cho hình ảnh của một ngƣời giàu có. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, ý nghĩa và hình ảnh mà một thời đƣợc biểu tƣợng bằng những tấm thẻ nhựa xanh nhỏ bé của American Express đã không còn đƣợc xem trọng nhƣ trƣớc kia.
Sự ra đời của hàng loạt thẻ tín dụng khác nhau – với ít biểu tƣợng địa vị hơn nhƣng lại mang tính tiện dụng thực tế hơn, đã thực sự đƣa ngƣời tiêu dùng vào kỷ nguyên tiên có của thế giới hiện đại tƣơng lai. 6 z Đến năm 1966, Bank of American giới thiệu sản phẩm thẻ đầu tiên của mình mang tên Bank Americard mà sau này phát triển thành Visa. Cuối năm 1990, có khoảng 257 triệu thẻ Visa Card đƣợc lƣu hành với doanh thu khoảng 354 tỷ USD. Cho đến năm 2004, đã có hơn 1,3 tỷ thẻ Visa lƣu hành trên toàn thế giới, doanh thu tăng lên đến 2,9 nghìn tỷ USD.
Năm 1966, sản phẩm Bank Americard gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt với Master Charge, đƣợc thành lập bởi Hiệp hội thẻ liên hàng quốc tế. Năm 1979, Master Charge đổi tên thành MasterCard và trở thành tổ chức thẻ quốc tế lớn thứ hai trên thế giới, sau Visa. Chỉ trong năm 1996, MasterCard đã thực hiện thành công gần 6 tỷ giao dịch và đạt tổng doanh thu trên 675 tỷ USD. Ngày nay, MasterCard và Visa Card là hai loại thẻ lƣu hành phổ biến nhất trên thế giới.
Thẻ thanh toán dần đƣợc xem nhƣ là một công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán. Các loại thẻ Master, Visa, Diners Club, JCB, American Express (Amex) đƣợc sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và các loại thẻ thay nhau phân chia những thị trƣờng rộng lớn. Thẻ Diners Club, thẻ du lịch và giải trí (T&E) đầu tiên đƣợc phát hành năm 1950 tại Mỹ. Năm 1960 là thẻ đầu tiên có mặt tại Nhật bản, chi nhánh đƣợc quản lý bởi CitiCop, ngƣời đứng đầu trong số ngân hàng phát hành thẻ.
Năm 1990 có 6,9 triệu ngƣời sử dụng thẻ Diners Club trên toàn thế giới với doanh số khổng lồ 16 tỷ USD. Hiện nay, thẻ Diners Club đƣợc sử dụng rộng rãi trên 150 quốc gia. Tại châu Á, Nhật bản là quốc gia đầu tiên phát hành thẻ với tên gọi là JCB, đây cũng là loại thẻ du lịch và giải trí do ngân hàng Sanwa phát hành và phát triển thành tổ chức thẻ quốc tế vào năm 1981. Hiện nay, JCB đã trở thành một trong những tổ chức thẻ mạnh nhất và là đối thủ lớn nhất của Amex trên thị trƣờng T&E card.
Thẻ JCB hoạt động theo cơ chế độc quyền, phát hành trực tiếp, không nhận thành viên nhƣ tổ chức Visa hay Master. Với xu hƣớng phát triển chung của thế giới, Việt Nam không thể tách mình ra khỏi xu hƣớng này nếu muốn phát triển ngành ngân hàng nói riêng và 7 z nền kinh tế nói chung. Do đó, từ năm 1993, khi NHNN Việt Nam lần đầu tiên đƣa công nghệ thẻ vào Việt Nam với mục đích thay thế các công cụ thanh toán truyền thống, thì hàng loạt thẻ thanh toán đã xuất hiện với tƣ cách là phƣơng tiện thanh toán mới trong hệ thống ngân hàng Việt Nam nhƣ thẻ Master Card năm 1996 và thẻ Visa Card năm 1997, thẻ tín dụng nội địa cả ACB và chắc chắn sau này sẽ có nhiều loại thẻ thanh toán khác sẽ lần lƣợt ra đời, tạo thuận lợi và an toàn nhất cho các bên tham gia. Nếu chỉ dựa thuần tuý vào con số thống kê về số ngƣời sử dụng thẻ thì có thể chƣa thấy hết đƣợc tiềm năng phát triển ứng dụng công nghệ thẻ thanh toán ở Việt Nam.
Nhƣng nếu xét từ xu hƣớng phát triển, yêu cầu hội nhập và đặc biệt là từ góc độ của nhà kinh doanh ngân hàng, thị trƣờng thẻ ở Việt Nam lại có tiềm năng rất lớn trong việc ứng dụng công nghệ thẻ thanh toán. Các ngân hàng Việt Nam đang tận dụng lợi thế của ngƣời đi sau đang tiến hành hiện đại hoá ngân hàng, tiêu chuẩn hoá các nghiệp vụ và từng bƣớc đa dạng hoá và hiện đại hoá các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là các dịch vụ ngân hàng đƣợc công nghệ hoá cao, trong đó hầu hết là các dịch vụ thẻ thanh toán nhƣ ATM, thẻ tín dụng, tiền ghi nợ kết hợp với thẻ tín dụng hoặc tiền điện tử, thƣơng mại điện tử, Internet Banking. Đây là những yêu cầu mới đang đặt ra mà các ngân hàng thƣơng mại sớm phải thực hiện trong quá trình hội nhập.