LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính thiết thực của đề tài Tính đến cuối năm 2016, các Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam đã phát hành đƣợc hơn 12 triệu thẻ tín dụng, trong khi dân số nƣớc ta là trên 93 triệu ngƣời, cho thấy thị trƣờng thẻ tín dụng tại Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng khai thác. Rõ ràng thị trƣờng thẻ tín dụng tại Việt Nam còn khá non trẻ và tiềm năng khai thác còn rất lớn, hiện nay nó ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. Các ngân hàng cũng dần nhận ra tiềm năng phát triển của lĩnh vực thẻ tín dụng và đã bắt đầu chú trọng phát triển dịch vụ này.
Ngày nay, phát hành và thanh toán thẻtín dụng là nghiệp vụ kinh doanh không thể thiếu của một ngân hàng hiện đại, nhằm thu hút khách hàng cũng nhƣ cạnh tranh với các ngân hàng khác. Tuy nhiên, để có thể phát triển một cách có hiệu quả nhất, giành đƣợc lợi thế trong cuộc cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ giữa các NHTM trong nƣớc và cả với ngân hàng nƣớc ngoài đòi hỏi công tác phát triển thẻ tín dụng phải có một chiến lƣợc rõ ràng, quy trình chặt chẽ nếu không sẽ đem lại rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng và gây thiệt hại cho nền kinh tế, tác động tiêu cực đến môi trƣờng đầu tƣ, đến uy tín của Việt Nam trên thị trƣờng. VCB nói chung và VCB Nam Định nói riêng luôn là ngân hàng đi đầu và chiếm thị phần lớn về phát triển thẻ tín dụng cả về số lƣợng lẫn doanh số sử dụng thẻ trong khu vực, trong những năm qua,VCB Nam Định không ngừng kiện toàn công tác phát triển thẻ tín dụng nhằm giữ vững thị phần hiện có và tiếp tục thu hút lƣợng khách hàng mới nhƣng vẫn còn có rất nhiều hạn chế xuất phát từ các nguyên nhân cả từnội lực và ngoại lực. Vì vậy, việc chọn đề tài “GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THẺ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH NAM ĐỊNH” là thực sự cần thiết cả về lý luận và thực tiễn đối với hoạt động kinh doanh của VCB Nam Định.
Tổng quan tình hình nghiên cứu: Hiện nay, để thực hiện mục tiêu thanh toán không dùng tiền mặt mà NHNN Việt Nam đã đặt ra, đòi hỏi chúng ta phải phát triển đƣợc dịch vụ thẻ. Tại Việt Nam, thẻ ghi nợ đang chiếm phần lớn thị phần thị trƣờng thẻ thanh toán, trong khi đó thẻ tín dụng lại là loại thẻ tƣơng đối mới mẻ. Đã có một số đề tài khoa học cũng nhƣ các bài viết đề cập đến thành tựu đạt đƣợc, tồn tại và các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ thẻ thanh toán nói chung và thẻ tín dụng nói riêng tại các Ngân hàng Thƣơng mại ở Việt Nam. Có thể kể đến nhƣ: Bài viết “Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam – Nhìn từ cơ sở thực tiễn” của Đặng Công Hoàn đăng trên Tạp chí ngân hàng, số 17, trang 26 – 33 năm 2011.Bài viết đã nêu rõ thực trạng phát triển thẻ thanh toán tại Việt Nam từ năm 2007.
Tác giả cũng nhận diện các yếu tố chƣa bền vững nhƣ: phát triển thẻ thanh toán chủ yếu thiên về số lƣợng chƣa đi kèm với sự thay đổi căn bản về chất lƣợng; doanh số dùng thẻ để rút tiền mặt qua ATM chiếm tỷ trọng quá cao; tính liên kết giữa đơn vị bán hàng và đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán không caovà kém bền vững; các chính sách hỗ trợ phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tuy đã có khá nhiều nhƣng chƣa có chính sách mang tính đột phá để tạo một lực bẩy cho công cụ thanh toán thẻ và thanh toán điện tử phát triển mạnh mẽ hơn. Qua đó, bài viết có đƣa ra một số giải pháp đối với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nƣớc, ngân hàng thƣơng mại và các tổ chức phát hành thẻ. “Chính sách của nhà nƣớc trong phát triển thanh toán không dùng tiền mặt – Kinh nghiệm phát triển thẻ thanh toán ở Hàn Quốc và một số hàm ý cho Việt Nam”, của Đặng Công Hoàn đăng trên Tạp chí ngân hàng, số 24, trang 9 – 15, năm 2011. Để có thể đạt đƣợc sự phát triển ấn tƣợng của thị trƣờng thẻ tín dụng thì Chính phủ Hàn Quốc đã cho ban hành những chính sách khá tập trung, đồng bộ hỗ trợ cho hoạt động thanh toán thẻ tín dụng nói riêng và thanh toán không dùng tiền mặt trong cả nƣớc nhƣ: - Ban hành Luật kinh doanh thẻ tín dụng khá sớm (1987).
- Đƣa ra quy định về việc xử lý giao dịch thẻ tín dụng quốc tế khi thanh toán tại thị trƣờng nội địa đều do hệ thống nội địa xử lý. 3 - Xây dựng hệ thống quản lý thông tin cá nhân, thông tin khách hàng rất minh bạch; thành lập Trung tâm thông tin tín dụng vào năm 2002. - Thực hiện mở cửa và tự do hoá lĩnh vực du lịch vào từ năm. Tuy nhiên, đến năm 2003, sự tăng trƣởng quá nóng của thị trƣờng thẻ tín dụng tại Hàn Quốc đã gây ra những hậu quả khá nghiêm trọng.
Dƣ nợ thẻ tín dụng tăng quá nhanh, tỷ lệ thanh toán không đúng hạn gia tăng, nợ xấu thẻ tín dụng tăng chóng mặt, hàng loạt tổ chức phát hành thẻ tín dụng đứng trƣớc nguy cơ phá sản. Trƣớc thực trạng đáng báo động của thị trƣờng thẻ, Chính phủ đã kịp thời ban hành các chính sách tái cơ cấu nhằm khắc phục khủng hoảng tín dụng tiêu dùng năm 2003: - Cấm hoạt động mời chào phát hành thẻ trên đƣờng phố, cấm các hình thức tặng quà, khuyến mãi để thu hút khách hàng sử dụng thẻ; - Quy định hạn mức rút tiền mặt là 50% thay vì 100% nhƣ giai đoạn trƣớc; - Yêu cầu các công ty thẻ, ngân hàng phải áp dụng tiêu chuẩn cao hơn trong việc cấp tín dụng thẻ và xử lý nợ xấu bằng cách đặt ra tiêu chuẩn phân loại, trích lập dƣ nợ thẻ tín dụng. Nhờ việc áp dụng đồng bộ các chính sách, tỷ lệ nợ quá hạn của Hàn Quốc đã giảm nhanh chóng từ 14,06% năm 2002 xuống còn 5,89% năm 2005. “Giải pháp phát triển thị trƣờng thẻ Việt Nam” của Bùi Quang Tiên đăng trên tạp chí tài chính ngày 20-5-2013.
Tác giả đã nêu một số kết quả đạt đƣợc trong quá trình phát triển thẻ tại Việt Nam về phát hành thẻ mới và nâng cao chất lƣợng thẻ cũng nhƣ dịch vụ tới khách hàng; cơ sở hạ tầng phục vụ cho thanh toán thẻ tiếp tục đƣợc đầu tƣ và cải thiện; hành lang pháp lý cho hoạt động thẻ tiếp tục đƣợc hoàn thiện; tăng cƣờng sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, đơn vị liên quan. Bài viết cũng đƣa ra mục tiêu phát triển thanh toán không dùng tiền mặt là: Đa dạng hóa dịch vụ thanh toán, phát triển cơ sở hạtầng thanh toán, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thanh toán điện tử, chú trọng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực nông thôn để đáp ứng tốt hơnnhu cầu thanh toán của nền kinh tế, giảm chi phí xã hội liên quan đến tiền mặt, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, rõ rệt về tập quán 4 thanh toán trong xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng và hiệu quả quản lý nhà nƣớc. “Thẻ tín dụng – phƣơng tiện giao dịch nhiều tiện ích” của Phƣơng Linh đăng trên trang của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam ngày 18/6/2014. Bài viết đã nêu lên một số lợi ích của thẻ tín dụng nhƣ: là hình thức tín dụng tiêu dùng đƣợc đơn giản hóa tối đa về thủ tục; NHPH thẻ thƣờng có điều khoản miễn lãi cho chủ thẻ tối đa đến 45 ngày kể từ ngày phát sinh giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ; thẻ tín dụng là hình thức cấp tín dụng tín chấp, ngân hàng căn cứ vào mức độ tín nhiệm, điều kiện thu nhập của khách hàng mà quy định hạn mức tín dụng phù hợp đối với chủ thẻ và chủ thẻ không phải thế chấp hay cầm cố tài sản cho ngân hàng.
Tuy nhiên, bài viết cũng đề cập đến vấn đề lãi suất thẻ tín dụng cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay thông thƣờng. Ví dụ, mức lãi suất thẻ tín dụng mà các ngân hàng tại Việt Nam hiện áp dụng từ khoảng 15%/năm đến 30%/năm tùy theo từng ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cá nhân có tài sản thế chấp chỉ ở mức 12%/năm. Tác giả có đƣa ra một số nguyên nhân dẫn đến lãi suất thẻ tín dụng cao đồng thời đƣa ra khuyến cáo cho chủ thẻ cần tìm hiểu kỹ các quy định của NHPH thẻ, đặc biệt là nắm vững cách tinh laĩ suất của NHPH Dự thảo “Đề án thí điểm một số hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại khu vực nông thôn giai đoạn 2014-2015” của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam. Ngân hàng Nhà nƣớc sẽ tiếp tục phối hợp với các NHTM trong việc triển khai Đề án đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2011-2015.
Cụ thể là, triển khai Kế hoạch tổng thể phát triển thanh toán qua POS giai đoạn 2014-2015; đánh giá tình hình triển khai thanh toán qua POS; hoàn thiện dự thảo đề án thí điểm một số hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại khu vực nông thôn giai đoạn 2014-2015. Qua đó ta thấy đƣợc dịch vụ thẻ thanh toán tại Việt Nam đặc biệt là thẻ tín dụng còn khá mới mẻ nhƣng rất đƣợc các ngân hàng cũng nhƣ Nhà nƣớc quan tâm. Tuy nhiên, các nghiên cứu mới tập trung vào phát triển dịch vụ thẻ tín dụng nói chung cho các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam. Do đó, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu để đƣa ra giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tín dụng cụ thể đối với Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – chi nhánh Nam Định.
Kết quả nghiên cứu 5 của luận văn dự kiến sẽ chỉ ra đƣợc những tồn tại, hạn chế cũng nhƣ kết quả đạt đƣợc và trên cơ sở đó đƣa ra những kiến nghị nhằm phần nào đó đóng góp cho các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách và các đối tƣợng liên quan có thêm tài liệu nghiên cứu và áp dụng trong thực tếhiện nay 3. Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của luận văn là tập trung vào các nội dung sau: - Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về thẻ tín dụng để biết đƣợc tổng quan vềthẻ tín dụng, lợi ích mà thẻ tín dụng mang lại, cơ chế phát hành thẻ tín dụng tại VCB Nam Định, và cả những rủi ro gặp phải trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng.