Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING THẺ TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về marketing thẻ tín dụng trong ngân hàng thương mại 1. Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một loại tổ chức tài chính chấp nhận tiền gửi, cung cấp dịch vụ kiểm tra tài khoản, thực hiện các khoản vay khác nhau và cung cấp các sản phẩm tài chính cơ bản như chứng chỉ tiền gửi và tài khoản tiết kiệm cho các cá nhân và doanh nghiệp DN [32, tr. Các NHTM thực hiện KD bằng cách cung cấp các khoản vay và tìm kiếm lọi nhuận từ các khoản vay đó.
Các loại khoản vay mà NHTM có thể phát hành khác nhau và có thể bao gồm các khoản thế chấp, cho vay tự động, cho vay KD và cho vay cá nhân. Một NHTM có thể chuyên về một hoặc một vài loại cho vay để phục vụ nhu cầu k hách hàng và thu lợi nhuận trong KD ngân hàng.Rose là “ngân hàng là một tổ chức tài chính cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức KD nào trong nền kinh tế” [46, tr. Ngày nay, NHTM là một tổ chức tài chính có vai trò rất lớn đối với nền kinh tế, cung cấp tài chính của cá nhân, DN; cung cấp các dịch vụ về tài chính, huy động vốn dân cư. NHTM còn là cầu nối giữa những người có tiền nhàn rỗi và những người có nhu cầu sử dụng tiền trong hoạt động sản xuất KD.
NHTM thực hiện KD tiền tệ, phục vụ cho mọi tầng lớp dân chúng, DN và xã hội, đồng thời NHTM giúp thị trường cân đối nguồn tiền, là cầu nỗi giúp những người có nhu cầu cho vay và những người vay tiền gặp nhau, từ đó tạo lợi nhuận cho cả ba bên và phát triển nền kinh tế. NHTM phát triển tại khắp mọi nơi trong nước và trên thế giới. Busines Dictionary nêu khái niệm NHTM là thực hiện dịch vụ ngân hàng cho các khách hàng cá nhân chứ không phải cho các DN và các tổ chức. Luật pháp Mỹ cho rằng: bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi, cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức KD hay cho vay thương mại đều được xem là một ngân hàng.
Luan van 10 Tại Việt Nam, theo pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/05/1990 của Hội đồng Nhà nước xác định “NHTM là tổ chức KD tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và được phép sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và là phương tiện thanh toán” [21]. Qua những cách hiểu về NHTM, có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản về NHTM như sau: - NHTM là một tổ chức KD tiền tệ, được pháp luật cho phép huy động và nắm giữ tiền của công chúng với trách nhiệm hoàn trả theo quy định của Pháp luật. - NHTM được pháp luật cho phép sử dụng các khoản tiền đã huy động từ công chúng để cho vay hoặc thực hiện các dịch vụ tài chính khác. Từ những khái niệm và nhận định của những nghiên cứu trước đó, tác giả nhận thấy: NHTM là một trong những tổ chức tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán và tài chính.Thẻ tín dụng của ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm Đối với các NHTM, việc KD dựa vào các sản phẩm thẻ diễn ra rất phổ biến, trên thị trường ngân hàng hiện nay thường có thẻ nội địa, thẻ tín dụng quốc tế, thẻ ghi nợ quốc tế, thẻ tín dụng công ty, thẻ đồng thương hiệu, thẻ ghi nợ kết hợp thẻ sinh viên. Xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt hiện nay không chỉ phổ biến trên thế giới, mà còn tương đối phổ biến tại Việt Nam, trong đó có hình thức thanh toán qua thẻ. Với định hướng thanh toán không dùng tiền mặt, các NHTM ngày càng tích cực phát triển các công nghệ ngân hàng di động kết nối internet và 3G, 4G, 5G. Do đó, các dịch vụ ngân hàng điện tử và thanh toán qua thẻ đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, bao gồm Internet banking (Ibanking), SMS Banking, Mobile Banking (ngân hàng trên điện thoại di động) và các loại thẻ của ngân hàng bán lẻ.
Thẻ tín dụng (Credit Card) là một loại thẻ ngân hàng mà người sở hữu có thể dùng để thanh toán mà không cần tiền có sẵn trong thẻ. Điều này có nghĩa là khách hàng “mượn” một số tiền của ngân hàng để mua sắm, chi tiêu và cuối kỳ sẽ phải trả lại đầy đủ cho ngân hàng. Thẻ tín dụng khác với thẻ tính phí, yêu cầu số dư phải được Luan van 11 thanh toán đầy đủ mỗi tháng. Ngược lại, thẻ tín dụng cho phép người tiêu dùng xây dựng số dư nợ liên tục, chịu lãi suất.
Thẻ tín dụng cũng khác với thẻ tiền mặt, có thể được sử dụng như tiền tệ của chủ sở hữu thẻ. Thẻ tín dụng khác với thẻ tính phí ở chỗ thẻ tín dụng thường liên quan đến một thực thể bên thứ ba trả tiền cho người bán và được người mua hoàn trả, trong khi thẻ tính phí chỉ trả chậm cho người mua thanh toán cho đến ngày sau đó. Từ các nghiên cứu có thể rút ra rằng, thẻ tín dụng là một hình thức thay thế thanh toán trực tiếp. Hình thức thanh toán này được thực hiện dựa trên uy tín, chủ thẻ không cần phải trả tiền mặt ngay khi mua hàng.
Thay vào đó, Ngân hàng sẽ ứng trước tiền cho người bán và chủ thẻ sẽ thanh toán lại sau cho ngân hàng khoản giao dịch sau một thời gian nhất định theo quy định của Ngân hàng. Lợi ích của thẻ tín dụng - Lợi ích tín dụng cá nhân [34] Khi sử dụng thẻ tín dụng, khách hàng các nhân không cần mang theo tiền mặt, có thể chi tiêu qua thẻ tín dụng tại bất kỳ địa điểm KD nào có thực hiện liên kết với ngân hàng. Khi thẻ tín dụng được sử dụng ngày một rộng rãi, người tiêu dùng cá nhân chỉ việc sử dụng thẻ mà không cần tiền mặt, hạn chế được những rủi ro khi mang theo tiền mặt như rơi mất, hỏng, rách… Bên cạnh đó, các NHTM còn hỗ trợ lãi suất trong một số trường hợp nhất định, đặc biệt khi chủ thẻ thanh toán hoàn thẻ trước thời hạn tính lãi suất. Khi thẻ tín dụng được sử dụng càng nhiều trong thanh toán, càng tạo điều kiện cho dòng tiền luân chuyển nhanh và lợi nhuận ngân hàng càng tăng cao.
Do đó, đây là cơ sở để các NHTM hỗ trợ khách hàng sử dụng thẻ tín dụng trong thanh toán. Đối với cá nhân, thẻ tín dụng là một phần quan trọng trong cuộc sống hàng ngày. Có thể từ mua sắm tiêu dùng hang ngày như mua xăng cho xe hay mua đồ tại cửa hàng tạp hóa, hoặc đặt phòng khách sạn… thẻ tín dụng giúp khách hàng có một hình thức thanh toán thuận tiện và an toàn. Các lợi ích từ bảo vệ thiệt hại khi mua hàng hóa và dịch vụ đến việc thanh toán các khoản phí… làm cho thẻ tín dụng trở thành một hình thức thanh toán nhanh chóng, hấp dẫn.
Ngày nay, các NHTM còn sáng tạo các dịch vụ đối với thẻ tín dụng để tạo ra các các tiện ích thu hút khách hàng sử dụng thẻ tín dụng như: chi tiêu trước, trả tiền Luan van 12 sau; tiêu dùng đơn giản không dùng tiền mặt; giao dịch bằng bất kỳ loại tiền tệ nào và bất kỳ thời gian nào; có thể ưu đãi miễn lãi tối đa một khoảng thòi gian nhất định đối với giao dịch thanh toán hàng hóa dịch vụ; sử dụng kênh thanh toán an toàn và bảo mật; quản lý chi tiêu hiệu quả, an toàn thông qua tin nhắn, sao kê hàng tháng; Được hưởng các chương trình khuyến mại, giảm giá hấp dẫn; được hưởng ưu đãi chương trình tích lũy điểm thưởng với tỷ lệ hoàn tiền cao cùng các phần quà giá trị. Ngoài việc dễ sử dụng và thêm bảo mật, thẻ tín dụng còn có thể giúp khách hàng xây dựng lịch sử tín dụng vững chắc. Với việc sử dụng thường xuyên và thanh toán kịp thời, người tiêu dùng có trách nhiệm sẽ thấy rằng người cho vay sẵn sàng cung cấp cho họ tín dụng bổ sung dưới dạng tăng hạn mức tín dụng, thế chấp và cho vay tiêu dùng. - Lợi ích tín dụng đối với DN [34] Đối với các DN nhỏ muốn khởi nghiệp, trong trường hợp thiếu vốn có thể thực hiện để sử dụng thẻ tín dụng như một khoản vay tài chính tài trong thời gian ngắn để hỗ trợ trong những trường hợp khó khăn trong khi các nguồn tài trợ truyền thống, chẳng hạn như các khoản vay cho DN nhỏ mà không có sẵn trong kế hoạch tài trợ vốn của ngân hàng cho DN.
Thẻ tín dụng giúp DN có tài chính và tác động tích cực hỗ trợ tăng trưởng DN. Bên cạnh đó, các chủ DN có thể tận dụng thẻ tín dụng để chi tiêu trong những trường hợp chưa kịp xuất tiền tại cơ quan, có thể chi tiêu trong trường hợp đi công tác và thực hiện các giao dịch khác. Thẻ tín dụng cho phép vay tiền tạm thời từ ngân hàng trong một thời gian giới hạn nhất định mà không phải trả lãi. - Lợi ích đối với nền kinh tế [34] Thẻ tín dụng không chỉ quan trọng đối với cá nhân và DN, mà còn là một khía cạnh quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Tiền mặt hoạt động tốt nhất trong các giao dịch trực tiếp và nhưng cần có thời gian để rút tiền mặt và kiểm tra tiền mặt. Khi sử thẻ tín dụng trong thanh toán và ứng dụng thanh toán điện tử làm cho hoạt động thanh toán nhanh hơn, rút ngắn thời gian giao dịch trong mọi hoàn cảnh và ứng dụng trên phạm vi thị trường toàn cầu một cách dễ dàng. Sự dễ dàng này khuyến khích các giao dịch đường dài, phạm vi rộng làm tăng khả năng Luan van 13 tiêu dùng và kích thích tăng tổng sản phẩm, tăng tiêu dùng trong và ngoài nước, có khả năng dẫn đến tăng việc làm cho nền kinh tế. Thẻ tín dụng đóng một vai trò quan trọng trong chu kỳ tăng tiêu thụ và sản xuất bằng cách cung cấp cho thương nhân một phương thức thanh toán được bảo đảm và cung cấp cho người tiêu dùng một cách để thu hẹp khoảng cách giữa tiền lương trong trường hợp khẩn cấp.