CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả trình bày tóm tắt “tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu”, đóng góp của đề tài và tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu. giúp có cái nhìn tổng quát về đề tài nghiên cứu làm cơ sở cho các chương tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm Dịch vụ Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; “bên sử dụng dịch vụ (khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận” (Luật Thương mại, 2005).
Một vài định nghĩa về dịch vụ như sau: Theo Zeithaml và ctg (2000) thì “dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. Theo Bùi Nguyên Hùng và Nguyễn Thúy Quỳnh Loan (2010), thì “Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau. Mục đích của tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng”. Dịch vụ có một số đặc thù hay tính chất mà nhờ đó chúng ta phân biệt với các loại hàng hóa hữu hình khác.
Dịch vụ “là một sản phẩm đặc biệt có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ” (Berry và ctg, 2002). Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được. Dịch vụ có các đặc điểm sau: Tính vô hình: Dịch vụ được xem như vô hình bởi vì nó nhấn mạnh đến việc thực hiện hơn là các vật thể. Dịch vụ không thể sờ nắm hay nhìn thấy giống như sản xuất.
Hơn nữa, dịch vụ là những gì chủ yếu là sự trải nghiệm và đánh giá của khách hàng nặng tính chủ quan hơn là khách quan. Tính không thể tách rời: Tính không thể tách rời hàm ý sản xuất và tiêu thụ gần như là đồng thời; trái với sản xuất là làm trước rồi sau đó mới bán và tiêu thụ; dịch vụ thì bán trước rồi mới cung ứng và tiêu thụ đồng thời. 8 Tính không thể lưu trữ: Tính không thể lưu trữ của dịch vụ nghĩa là dịch vụ không thể lưu trữ để bán hoặc sử dụng về sau. Tính không thể lưu trữ của dịch vụ không phải là vấn đề khi mà nhu cầu luôn tồn tại ổn định.
Tuy nhiên, khi nhu cầu nằm trong tình trạng dao động không ổn định, các công ty dịch vụ thường gặp khó khăn. Tính đa chủng loại: Tính đa chủng loại ngụ ý khả năng thực hiện dịch vụ mỗi lần mỗi khác; nghĩa là mỗi dịch vụ được tạo ra đều khác với những dịch vụ được tạo ra trước đó. Dịch vụ được tạo ra bởi con người, đồng thời tính đa chủng loại là cố hữu trong quá trình cung ứng. Việc thiếu tính nhất quán không thể nào loại bỏ.
Chất lượng dịch vụ Theo Bitner và Hubbert (1994)ưerer, “chất lượng dịch vụ là ấn tượng của khách hàng về sự vượt trội/thua kém một cách tương đối của một nhà cung cấp dịch vụ và những dịch vụ của nhà cung cấp này”. Chất lượng dịch vụ là “một ý niệm phức hợp và trong dịch vụ, việc đánh giá chất lượng được tiến hành thông qua quá trình tạo giao dịch vụ” (Fitzsimmons và Fitzsimmons, 2006). Bàn luận về chất lượng và hài lòng khách hàng được dựa trên cơ sở “cảm nhận của khách hàng về dịch vụ” (Zeithaml và ctg, 2006). Một số định nghĩa chung nhất liên quan đến dịch vụ đó là định nghĩa về “chất lượng dịch vụ” (Stewart và ctg, 2000).
Theo Parasuraman và ctg (1985), “đo lường mức độ dịch vụ đã tạo giao tương xứng với mong đợi của khách hàng. Thực hiện dịch vụ có chất lượng có nghĩa là phù hợp với mong đợi của khách hàng dựa trên một cơ sở nhất quán”. Chất lượng dịch vụ là khái niệm tổng hợp gồm hai chiều là chất lượng kỹ thuật (tạo giao cái gì) và chất lượng chức năng (dịch vụ được tạo giao như thế nào). Cảm nhận về chất lượng của một dịch vụ nào đó là kết quả của quá trình đánh giá: khách hàng so sánh mong đợi của mình với dịch vụ mà khách hàng cảm nhận về những gì họ thực sự nhận được, nghĩa là khách hàng đặt dịch vụ cảm nhận (một vài dịch vụ có chất lượng kỹ thuật và một vài dịch vụ có chất lượng chức năng) tương phản với dịch vụ mong đợi.
Kết quả của quá trình này sẽ là “cảm nhận về chất lượng dịch vụ” (Grönroos, 1982). Theo Lehtinen và Lehtinen (1991), “chất lượng dịch vụ gồm có hai thành phần là chất lượng quá trình và chất lượng 9 đầu ra; chất lượng quá trình được khách hàng đánh giá trong quá trình dịch vụ còn chất lượng đầu ra được khách hàng đánh giá sau khi dịch vụ được thực hiện”. Chất lượng dịch vụ “được cảm nhận như là một diễn dịch chủ quan của khách hàng về kinh nghiệm của mình” (Lehtinen và Lehtinen, 1991). Khách hàng cảm nhận về chất lượng dịch vụ là “kết quả từ việc so sánh mong đợi trước khi nhận được dịch vụ và kinh nghiệm thực tế với dịch vụ” (Berry và ctg, 1985).
Cảm nhận chất lượng dịch vụ là “kết quả từ sự so sánh của khách hàng giữa chất lượng kỳ vọng và chất lượng dịch vụ đã thực hiện” (Parasuraman và ctg, 1985). Chất lượng dịch vụ xảy ra khi cảm nhận của khách hàng về một dịch vụ đã tạo giao ngang xứng với những kỳ vọng trước đó của họ (Parasuraman và ctg, 1988). Parasuraman và ctg (1991) giải thích rằng, “để biết được sự dự đoán của khách hàng thì tốt nhất là nhận dạng và thấu hiểu những mong đợi của họ”. Việc phát triển một hệ thống xác định được những mong đợi của khách hàng là cần thiết.
Và ngay sau đó ta mới có một chiến lược chất lượng cho dịch vụ có hiệu quả. Đây có thể xem là một khái niệm tổng quát nhất, bao hàm đầy đủ ý nghĩa của dịch vụ đồng thời cũng chính xác nhất khi đánh giá chất lượng dịch vụ đứng trên quan điểm khách hàng, xem khách hàng là trung tâm. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, với quan điểm hướng về khách hàng, “chất lượng dịch vụ” được định nghĩa là khả năng đáp ứng mong đợi và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Chính khách hàng là người quyết định và định rõ “chất lượng dịch vụ” khi doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phù hợp với nhu cầu của họ.
Do đó, “chất lượng dịch vụ” là một khái niệm mang tính chủ quan, phụ thuộc vào những mong đợi và nhu cầu của từng khách hàng. Nhìn từ quan điểm này, dịch vụ có thể được đánh giá khác nhau bởi các khách hàng khác nhau, và ngay cả cùng một khách hàng cũng có thể có cảm nhận khác nhau về dịch vụ, tùy thuộc vào các giai đoạn khác nhau và thời điểm cụ thể. Điều này phản ánh tính đa dạng và linh hoạt của mong đợi và nhu cầu của khách hàng. Tóm lại, quan điểm hướng về khách hàng trong nghiên cứu này giúp hiểu rõ hơn về khía cạnh chủ quan của “chất lượng dịch vụ”, thể hiện sự đa dạng trong đánh giá và cảm nhận của khách hàng, và nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc đáp ứng đúng nhu cầu và mong đợi của từng khách hàng để đạt được “chất lượng dịch vụ” tối ưu.
10 Thẻ tín dụng Hiện nay, xu hướng thanh toán không sử dụng tiền mặt không chỉ phổ biến trên toàn cầu mà còn được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam, đặc biệt là thông qua hình thức thanh toán qua thẻ. Với việc định hướng thanh toán không tiền mặt, các Ngân hàng và Tổ chức Tài chính hiện đang tập trung mạnh mẽ vào việc phát triển các công nghệ ngân hàng di động kết nối Internet tốc độ cao. Nhờ vào điều này, “các dịch vụ ngân hàng điện tử” và thanh toán qua thẻ đang ngày càng phát triển và đa dạng hơn bao gồm: Internet banking (I-banking), SMS Banking, Mobile Banking (ngân hàng trên điện thoại di động), và các loại thẻ được cung cấp bởi các ngân hàng bán lẻ. Thẻ tín dụng, là một loại thẻ ngân hàng mà người sở hữu có thể dùng để thanh toán mà không cần tiền có sẵn trong thẻ.
Điều này cho phép khách hàng “mượn” một số tiền của ngân hàng để mua sắm, chi tiêu và cuối kỳ sẽ phải trả lại đầy đủ cho ngân hàng. Thẻ tín dụng khác với thẻ tính phí, yêu cầu số dư phải được thanh toán đầy đủ mỗi tháng. Ngược lại, thẻ tín dụng cho phép người tiêu dùng xây dựng số dư nợ liên tục, chịu lãi suất. Thẻ tín dụng cũng khác với thẻ tiền mặt, có thể được sử dụng như tiền tệ của chủ sở hữu thẻ.
Thẻ tín dụng khác với thẻ tính phí ở chỗ thẻ tín dụng thường liên quan đến một thực thể bên thứ ba trả tiền cho người bán và được người mua hoàn trả, trong khi thẻ tính phí chỉ trả chậm cho người mua thanh toán cho đến ngày sau đó. Thẻ tín dụng là một hình thức thay thế thanh toán trực tiếp. Hình thức thanh toán này được thực hiện dựa trên uy tín, chủ thẻ không cần phải trả tiền mặt ngay khi mua hàng. Thay vào đó, Ngân hàng sẽ ứng trước tiền cho người bán và chủ thẻ sẽ thanh toán lại sau cho ngân hàng khoản giao dịch sau một thời gian nhất định theo quy định của Ngân hàng.
Như vậy, thẻ tín dụng là loại thẻ cho phép chủ thẻ được sử dụng trong hạn mức tín dụng tuần hoàn được cấp mà chủ thẻ phải thanh toán ít nhất mức trả nợ tối thiểu vào ngày đến hạn. Sự hài lòng Là một khái niệm quan trọng trong lý thuyết cũng như hoạt động thực tiễn của marketing. Tất cả các lý thuyết marketing đều tập trung vào việc mang lại sự hài lòng cho khách hàng và từ đó góp phần đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Sự hài lòng của khách hàng được coi là nhân tố cực kỳ quan trọng mà các doanh nghiệp định hướng và nỗ lực để “đáp ứng nhu cầu đa dạng của từng khách hàng cá nhân và tổ chức”.