phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các từ viết tắt, bảng biểu… luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: CHƢƠNG 1: Cơ sở lý luận về hoạt động Marketing tại các ngân hàng thƣơng mại. CHƢƠNG 2: Thực trạng hoạt động Marketing tại ngân hàng TMCP Việt Nam Thƣơng Tín (VIETBANK). CHƢƠNG 3: Các giải pháp tăng cƣờng hoạt động Marketing tại ngân hàng TMCP Việt Nam Thƣơng Tín (VIETBANK). Luan van 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Có thể hiểu hoạt động ngân hàng đƣợc chia thành 6 bộ phận bao gồm: (1) Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; (2) Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nƣớc và nƣớc ngoài (3) Cấp tín dụng; (4) Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng; (5) Cung ứng các phƣơng tiện thanh toán; (6) Cung ứng các dịch vụ thanh toán. 6 bộ phận trên có thể gộp thành ba mảng chính: hoạt động huy động vốn; hoạt động sử dụng vốn và hoạt động cung cấp dịch vụ. (Giáo trình: “Quản trị ngân hàng thƣơng mại - PGS.
Phan Thị Thu Hà).1 Hoạt động huy động vốn Huy động vốn là hoạt động cơ bản đầu tiên của một ngân hàng thƣơng mại. Ngân hàng thực hiện huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng. Khi bắt đầu hoạt động, ngân hàng thực hiện mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng đã huy động đƣợc lƣợng tiền nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cƣ.
Đây là nghiệp vụ tạo nguồn vốn kinh doanh cho ngân hàng thƣơng mại. Hoạt động nguồn vốn đƣợc phản ánh thông qua kết cấu nguồn vốn của ngân hàng thƣơng mại, bao gồm: Vốn của ngân hàng: Vốn của ngân hàng là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng nên còn gọi là vốn chủ sở hữu. Vốn tự có gồm: Luan van 8 - Vốn điều lệ: Là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, ghi trong điều lệ của ngân hàng, đƣợc hình thành ngay từ khi ngân hàng thƣơng mại đƣợc thành lập. Gọi là vốn điều lệ vì vốn này đƣợc ghi trong điều lệ hoạt động ngân hàng.
Vốn điều lệ có thể điều chỉnh tăng trong quá trình hoạt động của ngân hàng. Vốn điều lệ có thể do nhà nƣớc cấp nếu đó là ngân hàng thƣơng mại quốc doanh, có thể là vốn đóng góp của cổ đông nếu là ngân hàng thƣơng mại cổ phần. Trên thế giới, hầu hết vốn của các ngân hàng thƣơng mại dƣới dạng cổ phần do các cổ đông đóng góp. Đứng về mặt hạch toán, ngân hàng thƣơng mại cổ phần coi số vốn cổ phần là phần vay nợ từ các cổ đông.
Do vậy, việc huy động vốn để thành lập ngân hàng cổ phần cũng đƣợc coi là nghiệp vụ vay nợ. - Quỹ dự trữ: Đƣợc hình thành từ 2 quỹ là quỹ dự trữ để bổ sung vốn điều lệ và quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro. Các quỹ này đƣợc trích từ lợi nhuận ròng (là lợi nhuận sau khi đã trừ thuế) hàng năm của ngân hàng. Việc hình thành các quỹ này nhằm làm tăng vốn tự có của Ngân hàng, đồng thời đảm bảo an toàn trong kinh doanh.
Vốn huy động: Đây là nguồn vốn quan trọng nhất trong số vốn thu hút từ bên ngoài của các ngân hàng thƣơng mại, bao gồm: - Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng mà khách hàng không có thoả thuận trƣớc về thời gian rút tiền. Ngân hàng phải trả một mức lãi suất thấp hoặc không phải trả một lãi cho số tiền gửi này. Bởi vì, tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng rất biến động, khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào, do đó ngân hàng không chủ động sử dụng số vốn này, ngân hàng phải dự trữ một số tiền để đảm bảo có thể thanh toán ngay khi khách hàng có nhu cầu. Tiền gửi không kỳ hạn gồm hai loại: * Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng để thực hiện các khoản thanh toán về tiền mua hàng hoá, dịch vụ và các khoản thanh toán khác phát sinh Luan van 9 trong quá trình hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Đứng trên góc độ là khách hàng thì đây là tiền khách hàng gửi vào ngân hàng để sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt: Séc, thẻ thanh toán, uỷ nhiệm chi. Họ có quyền rút ra bất kỳ lúc nào thông qua công cụ thanh toán. Đứng trên góc độ ngân hàng thì ngân hàng coi đây là một khoản tiền mà họ phải có trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên ngân hàng cần tận dụng loại tiền gửi này để làm vốn kinh doanh của mình bởi vì trong quá trình lƣu chuyển vốn của ngân hàng do có sự chênh lệch giữa các khoản tiền gửi vào và rút ra giữa các tài khoản của khách hàng.
* Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý: Là loại tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm bảo đảm an toàn về tài sản. Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý cũng là tài sản của ngƣời ký thác, họ có quyền rút bất kỳ lúc nào, ngân hàng luôn luôn phải đảm bảo có thể thanh toán, lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán. Mục đích của ngƣời gửi tiền là bảo đảm an toàn vì khách hàng không xác định đƣợc thời gian nhàn rỗi cho số tiền của họ và họ không có nhu cầu sử dụng tiền gửi thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng. - Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi, khách hàng gửi vào ngân hàng có sự thoả thuận trƣớc về thời hạn rút tiền.
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi tƣơng đối ổn định vì ngân hàng xác định đƣợc thời gian rút tiền của khách hàng để thanh toán cho khách hàng đúng thời hạn. Do đó ngân hàng có thể chủ động sử dụng số tiền gửi đó vào mục đích kinh doanh trong thời gian ký kết. Đối với loại tiền gửi này, ngân hàng có rất nhiều loại thời hạn từ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng. mục đích là tạo cho khách hàng có đƣợc nhiều kỳ hạn gửi phù hợp với thời gian nhàn rỗi của khoản tiền mà họ có.
Chính vì là loại tiền gửi mà ngân hàng có quyền sử dụng nó trong thời gian nhất định nên loại tiền gửi này đƣợc trả lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn nhƣng những ngƣời gửi Luan van 10 tiền loại này không đƣợc hƣởng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng (không đƣợc ký phát séc). Ở Việt Nam, tiền gửi có kỳ hạn thƣờng dƣới hai dạng: + Tiền gửi có kỳ hạn theo tài khoản + Tiền gửi có kỳ hạn dƣới hình thức phát hành kỳ phiếu ngân hàng: Kỳ phiếu phát hành theo mệnh giá và kỳ phiếu chiết khấu (ngƣời mua sẽ tra số tiền mua kỳ phiếu bằng mệnh giá trừ đi khoản lãi mà họ sẽ đƣợc hƣởng). - Tiền gửi tiết kiệm: Là khoản tiền để dành của cá nhân đƣợc gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hƣởng lãi theo định kỳ. Các mức lãi suất tƣơng ứng với từng kỳ hạn gửi đƣợc ngân hàng công bố sẵn.
Tiền gửi tiết kiệm thƣờng bao gồm ba loại sau: * Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào song không đƣợc sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho ngƣời khác. Số dƣ tiền gửi này không lớn, nhƣng ít biến động, vì vậy đối với loại tiền gửi này các Ngân hàng thƣơng mại thƣờng trả lãi suất cao hơn với tiền gửi thanh toán. * Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có sự thoả thuận về thời gian gửi và rút tiền, có mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn. Loại hình tiết kiệm này khá quen thuộc ở Việt Nam, các Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam thƣờng huy động tiết kiệm với thời hạn phong phú từ ba tháng đến một năm.
* Tiết kiệm dài hạn: Đây là loại tiền gửi phổ biến ở một số nƣớc công nghiệp. Loại tiết kiệm này có tính ổn định cao bởi vì thời gian gửi tiền từ một năm trở lên, do đó ngân hàng chủ động sử dụng nguồn vốn này, nó tạo cho ngân hàng có tính chủ động sử dụng vốn cho mục đích vốn dài hạn. Để thu hút vốn này, ngân hàng thƣờng phải trả lãi suất cao. Vốn đi vay: Trong quá trình hoạt động, ngân hàng còn có thể vay vốn từ Ngân hàng Trung ƣơng hay các tổ chức tín dụng khác hoặc từ thị trƣờng tài chính trong và ngoài nƣớc.2 Hoạt động sử dụng vốn Là hoạt động trong đó công ty - công ty con của ngân hàng - cam kết mua lại các khoản thanh toán chƣa tới hạn phát sinh từ những hoạt động xuất khẩu, cung ứng hàng hóa và dịch vụ với giá chiết khấu.
Các khoản nợ này thƣờng là nợ ngắn hạn (từ 30 đến 120 ngày). Theo Luật các tổ chức Tín dụng năm 2010, hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng vốn tự có, vốn huy động để cấp tín dụng và ngân hàng đƣợc cấp tín dụng dƣới nhiều hình thức đó là cho vay; chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhƣợng và giấy tờ có giá khác; bảo lãnh ngân hàng; phát hành thẻ tín dụng; bao thanh toán trong nƣớc, bao thanh toán quốc tế với các ngân hàng đƣợc phép thực hiện thanh toán quốc tế; cho thuê tài chính; các hình thức khác đƣợc ngân hàng nhà nƣớc cho phép. Nghiệp vụ cho vay và đầu tƣ là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của ngân hàng thƣơng mại. Đây là các nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản có của ngân hàng.1 Hoạt động cho vay Là tín dụng nghiệp vụ của ngân hàng thƣơng mại.