Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm Tổ chức từ thiện: Tổ chức từ thiện được định nghĩa là một tổ chức, thực thể hoặc quỹ phi lợi nhuận hỗ trợ dự án từ thiện. Tổ chức này chịu trách nhiệm tiếp cận các nhà tài trợ tiềm năng và quản lý số tiền quyên góp nhận được, các nhà tài trợ hiện tại và tổ chức từ thiện dự án. Dự án từ thiện: Bao gồm các định nghĩa rộng.
Nó có thể được tập trung vào 'dựa trên dự án', theo đó dự án đã được tạo và thông qua quyên góp trực tuyến (ví dụ huy động vốn từ cộng đồng thông qua SNS), mọi người có thể quyên góp để tài trợ cho dự án (thường hướng nhiều hơn vào vốn tài trợ kinh doanh; ví dụ: dự án về nghệ thuật và phim) (Wash & Solomon, 2014). Tuy nhiên, dự án từ thiện tập trung vào mục đích xã hội, hoạt động và sự kiện để thúc đẩy phúc lợi của người khác hoặc để giúp đỡ những người gặp khó khăn (ví dụ: thiên tai cứu trợ và nghèo đói). Dự án từ thiện có thể được hỗ trợ bởi các tổ chức, quỹ hoặc cá nhân. SNS SNS đã chứng minh khả năng thu hút nhiều đối tượng và dường như là một nền tảng thuận lợi để quyên góp trực tuyến không chỉ để tiếp cận các nhà tài trợ tiềm năng mà còn để duy trì các nhà tài trợ hiện có.
Do đó, các tính năng của SNS hỗ trợ do người dùng tạo nội dung, giao tiếp và tương tác, và đóng một vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến thái độ của mọi người đối với quyên góp trực tuyến. Các tính năng SNS hỗ trợ giao tiếp được phân loại thành ba phần chính; nguồn thông tin bao gồm các thông điệp và các yếu tố chia sẻ, xây dựng cộng đồng bao gồm các yếu tố đối thoại và quảng bá bao gồm các chiến dịch và thúc đẩy các yếu tố sự kiện (Lovejoy & Saxton, 2012).Các tính năng của SNS có vai trò ảnh hưởng đến thái độ chung của mọi người đối với quyên góp trực tuyến Thái độ chung đối với quyên góp trực tuyến Thái độ là mức độ cảm nhận và nhận thức của một người về việc tham gia quyên góp tiền trực tuyến, nghĩa là rng một người thuận lợi, không thuận lợi hoặc đánh giá về hành vi quyên góp trực tuyến. Một người có thái độ tích cực hơn là có nhiều khả năng 4 quyên góp tiền trực tuyến hơn. Theo đến lý thuyết nổi tiếng nhất trong nghiên cứu lĩnh vực hành vi của con người (tức là TPB) (Ajzen, 1991), thái độ đối với một hành vi là yếu tố quyết định ý định thực hiện hành vi đó.
Knowles và cộng sự (2012) đã tuyên bố rng thái độ có tác động tích cực trong việc dự đoán trẻ ý định quyên góp tiền cho các tổ chức từ thiện của mọi người, cũng như cung cấp hỗ trợ và xác nhận rng thái độ đó là nhân tố quyết định ý định hành vi. Các lý thuyết nền tảng: Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) TPB đã được công nhận rộng rãi như một công cụ quan trọng để hiểu và dự đoán hành vi của con người. Theo TPB,mọi người hành động phù hợp với ý định và nhận thức của họ về việc kiểm soát hành vi của họ, trong khi thái độ (đánh giá của thực hiện một hành vi), chuẩn mực chủ quan (áp lực xã hội nhận thức và kỳ vọng để thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi), nhận thức kiểm soát hành vi (nhận thức dễ dàng hoặc khó khăn khi thực hiện một hành vi) ảnh hưởng đến ý định (Ajzen, 1991,2001). Lý thuyết này được sử dụng để dự đoán ý định làm từ thiện của con người.
Lý thuyết về hành động hợp lý (TRA) TRA thừa nhận rng hành vi của một cá nhân là trực tiếp bị ảnh hưởng bởi ý định hành động của anh ấy hoặc cô ấy, và ý định đó, trong bị ảnh hưởng bởi thái độ của cá nhân đối với hành động và các chuẩn mực chủ quan về cách một người nên hành động.Thái độ được coi là một chức năng của niềm tin của một người về khả năng rng hành động sẽ dẫn đến những kết quả khác nhau và sự đánh giá của một người của những niềm tin đó. Chuẩn mực chủ quan là của cá nhân nhận thức về việc liệu những người quan trọng khác có nghĩ rng một nên thực hiện một hành động cụ thể. Các chuẩn mực chủ quan phụ thuộc vào về những niềm tin nổi bật về những kỳ vọng chuẩn mực của một trong những người giới thiệu cụ thể của cá nhân, được cân nhắc bởi động lực để tuân thủ mong đợi của từng người giới thiệu. TRA sau đó đại diện cho các quyết định như ý định.
Ý định là của cá nhân kỳ vọng về hành vi của chính mình trong một bối cảnh nhất định. Lý thuyết mở rộng về hành vi có kế hoạch (ETPB) Nghiên cứu này đưa ra một khung lý thuyết mở rộng về hành vi có kế hoạch (ETPB) để xem xét kỹ lưỡng ý định quyên góp trực tuyến của những người trẻ tuổi ở một quốc gia 5 đang phát triển. Bên cạnh đó, các nghiên cứu hiện tại đã tập trung vào việc kiểm tra các yếu tố bên trong mà ít chú ý đến các yếu tố bên ngoài (Sura và cộng sự, 2017). Cherry (2013) lập luận rng yếu tố bên ngoài có vai trò riêng ảnh hưởng đến việc mọi người quyên góp.
Bng cách tính đến những lỗ hổng tài liệu này, nghiên cứu này cố gắng điều tra các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến ý định của nhóm người dùng SNS lớn nhất. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan Nghiên cứu của Suaini Sura, Jongchang Ahn và Ook Lee (2017) Theo Suaini Sura và cộng sự nghiên cứu các yếu tố bên ngoài như dự án từ thiện, tổ chức từ thiện, tính năng công nghệ Internet và tính năng mạng xã hội có ảnh hưởng đến thái độ chung của mọi người đối với quyên góp trực tuyến và ý định quyên góp thông qua mạng xã hội hay không. Sử dụng mô hình phương trình cấu trúc dựa trên dữ liệu từ 258 người. Mẫu được giới hạn ở một số quốc gia châu Á (chủ yếu là Malaysia và Hàn Quốc).
Do đó, kết quả không thể áp dụng cho các quốc gia khác. Nghiên cứu này nhm điều tra lý thuyết về hành vi có kế hoạch, một mô hình phương trình cấu trúc kết hợp thái độ của cá nhân, chuẩn mực đạo đức cá nhân và chủ quan định mức được đề xuất để đo lường giá trị trải nghiệm của các nhà tài trợ và ý định hiến tặng. Kết quả nghiên cứu đã tìm ra mối liên kết giữa tính năng công nghệ Internet và ý định quyên góp từ thiện thông qua mạng xã hội. Tuy nhiên, các yếu tố như dự án từ thiện, tổ chức từ thiện và tính năng mạng xã hội không phải là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định quyên góp thông qua mạng xã hội.
Tổ chức phi lợi nhuận nên tập trung vào cách xử lý các vấn đề liên quan đến Internet, đặc biệt là về mặt bảo mật và riêng tư. Do đó, cần xem xét một cơ chế để giành được sự tin tưởng của người quyên góp trong việc sử dụng Internet, đặc biệt là trong các giao dịch trực tuyến. 6 Hình 1: Mô hình nghiên cứu của Suaini Sura và cộng sự (2017) Nguồn: Suaini Sura và cộng sự (2017) Nghiên cứu của Sangmi Choi và cộng sự (2019) Nghiên cứu này xem xét tác động trung gian của quyên góp trực tuyến đến nhận thức về quyên góp của thanh thiếu niên, cũng như con đường từ quyên góp trực tuyến đến ý định quyên góp trong tương lai. Sử dụng dữ liệu thu thập từ 287 thanh thiếu niên thông qua một cuộc khảo sát trực tuyến, nghiên cứu đã phát hiện ra rng trải nghiệm quyên góp trực tuyến có tác động tích cực đến tần suất quyên góp trong tương lai, thông qua nhận thức về quyên góp.
Những kết quả này cho thấy rng các tổ chức phi lợi nhuận nên xem xét các nền tảng quyên góp trực tuyến là cơ chế quan trọng trong việc khuyến khích nhà hảo tâm trẻ tuổi. Cần có nghiên cứu trong tương lai để phát triển các mô hình lý thuyết về quyên góp trực tuyến cũng như điều tra tính ứng dụng của các mô hình này, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. 7 Hình 2: Mô hình nghiên cứu của Sangmi Choi và cộng sự (2019) Nguồn: Sangmi Choi và cộng sự (2019) Nghiên cứu của Gladys Greselda Gosal và cộng sự (2022) Mạng xã hội đã trở thành một công cụ tiếp thị hiệu quả, bao gồm các nền tảng quyên góp dựa trên quyên góp, để tiếp cận các nhà hảo tâm tiềm năng. Nghiên cứu nhm phân tích hiệu quả của việc quảng bá trên mạng xã hội trong ảnh hưởng đến ý định quyên góp trực tuyến của thế hệ millennial.
Với lý thuyết S-O-R, nghiên cứu sử dụng các biến như sự thích thú với nội dung (S), các thuộc tính của mạng xã hội (S), tương tác trên mạng xã hội (O), uy tín được cảm nhận (O) và ý định quyên góp (R). Sau đó, các đo lường định lượng được sử dụng bng cách phân phối các bảng câu hỏi cho mẫu được lựa chọn và thu thập được 152 phản hồi. Dữ liệu được phân tích bng SEM. Kết quả cho thấy rng ý định quyên góp được ảnh hưởng bởi tương tác trên mạng xã hội và uy tín được cảm nhận.
Trong khi đó, uy tín được cảm nhận được ảnh hưởng bởi cả sự thích thú với nội dung và các thuộc tính của mạng xã hội. Tuy nhiên, kết quả cho thấy tương tác trên mạng xã hội chỉ bị ảnh hưởng bởi sự thích thú với nội dung và không bị ảnh hưởng bởi các thuộc tính của mạng xã hội. Kết quả đặc biệt có thể do các nhà sử dụng mạng xã hội có hành vi khác nhau đối với các nền tảng gây quỹ, khi họ chỉ muốn quyên góp và hiếm khi tham gia vào mạng xã hội của người gây quỹ. Nghiên cứu kêu 8 gọi sự điều tra thêm bng các khái niệm đa chiều để đánh giá các động lực của ý định quyên góp.
Hình 3: Mô hình nghiên cứu của Gladys Greselda Gosal và cộng sự (2022) Nguồn: Gladys Greselda Gosal và cộng sự (2022) Nghiên cứu của Tze Kiat Lui & Mohd Haniff Zainuldin (2021) Nghiên cứu này khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến ý định của sinh viên quyên góp tiền qua mạng xã hội.