Mở đầu Giới thiệu sự cần thiết của đề tài. Trên cơ sở đó, xác định mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, đối tượng khảo sát, phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu. Đồng thời, chương này cũng trình bày bố cục của nghiên cứu. Chương 2 Tổng quan Trình bày về tổng quan về những nghiên cứu trong nước và trên thế giới về khởi nghiệp.
Bên cạnh đó, nêu một cách khái quát về Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM gồm giới thiệu, tổ chức nhà trường, đào tạo, hoạt động hợp tác và nghiên cứu khoa học. Đồng thời cũng tổng quan về khởi nghiệp ở Việt Nam. Chương 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trình bày cơ sở lí luận về khái niệm khởi nghiệp. Bên cạnh đó, cũng trình bày về mô hình nghiên cứu gồm mô hình nghiên cứu tham khảo và mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả.
Cuối cùng là trình bày về phương pháp nghiên cứu gồm phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích và xử lý số liệu, quy trình nghiên cứu, thang đo và các khái niệm nghiên cứu mà tác giả đã đề ra. Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận Đây là chương quan trọng nhất của đề tài nêu lên kết quả của quá trình nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ĐHNL TP.HCM, trình bày kết quả thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, hồi quy tuyến tính, tương quan pearson, kiểm định sự khác biệt trung bình ANOVA, T-Test và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của sinh viên ĐHNL TP. Chương 5 Kết luận và đề nghị Tóm tắt và thảo luận kết quả nghiên cứu, các đóng góp về mặt phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và trình bày các hạn chế của nghiên cứu. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
4 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2. Tổng quan về khởi nghiệp: 2. Giới thiệu về khởi nghiệp: Định nghĩa khởi nghiệp còn gọi là start - up, là việc cá nhân chấp nhận mọi rủi ro để tạo lập doanh nghiệp mới hoặc mở cửa hàng kinh doanh vì mục đích lợi nhuận và làm giàu. Hisrich và Drovensek (2002) cho rằng khởi nghiệp là quá trình tạo ra một cái gì đó mới mẻ, có giá trị bằng cách dành thời gian và nỗ lực cần thiết để đạt được sự độc lập về tiền tệ, trong đó có những rủi ro về tài chính, tâm linh và xã hội kèm theo.
Theo (Joyce Koe Hwee Nga & Gomathi Shamuganathan, 2010), khởi nghiệp là sự theo đuổi các cơ hội làm giàu về mặt kinh tế thông qua các sáng kiến hay các ý tưởng mới của cá nhân trong môi trường hoạt động không chắc chắn với các nguồn lực hữu hình giới hạn. Trong nghiên cứu này, khởi nghiệp sẽ được hiểu là sự tạo dựng một công việc kinh doanh mới hay thành lập một doanh nghiệp mới thông qua những ý tưởng kinh doanh sáng tạo, nhận diện và tận dụng được các cơ hội để đạt được sự hài lòng trong việc kinh doanh của chính mình. Quan điểm này dễ hiểu và có sự tương đồng với các quan điểm về khởi nghiệp trước đó. Khởi nghiệp đang là chủ đề nhận được nhiều quan tâm tại Việt Nam, nhất là trong bối cảnh quốc gia hội nhập mạnh mẽ với kinh tế thế giới.
Khởi nghiệp được kỳ vọng sẽ tạo sự tăng trưởng kinh tế, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao và đa dạng của xã hội, tạo ra nhiều việc làm cho cộng đồng và xã hội (Thanh Tuyền, 2018). Năm 2016, chính phủ Việt Nam xác định là “năm quốc gia khởi nghiệp”. Theo Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong giai đoạn 2016 - 2019, mỗi năm Việt Nam có trên 126.000 DN thành lập mới, tăng gấp 1,6 lần so với giai đoạn 2011- 2015. Việt Nam hiện có khoảng trên 3.000 DN khởi nghiệp.
Theo đánh giá của Cơ quan Thương mại và Đầu tư của Chính phủ Australia, Việt Nam đang đứng thứ 3 Đông Nam Á về số lượng các DN khởi nghiệp, top 20 nền kinh tế có tinh thần khởi nghiệp dẫn đầu. Thống kê của Tạp chí Echelon (Singapore) Việt Nam hiện có trên 3.000 DN khởi nghiệp sáng tạo, khoảng gần 50 cơ sở ươm tạo khởi nghiệp, tổ chức thúc đẩy kinh doanh đang hoạt động trên cả nước, có khoảng 40 quỹ đầu tư mạo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam (Vũ Thị Vân & Vũ Hải Thúy, 2021). Đầu tư khởi nghiệp của Việt Nam 2016 – 2021 Nguồn: Báo VnEconomy Kể từ đó, trước làn sóng khởi nghiệp, sáng tạo diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và ban hành các văn bản liên quan nhằm hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp. Trên cơ sở đó, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng đã ban hành các quyết định, kế hoạch, chương trình về khởi nghiệp và khởi nghiệp sáng tạo, để định hướng, đề ra mục tiêu và giải pháp cơ bản về hỗ trợ, thúc đẩy phát triển hoạt động khởi nghiệp.
Vai trò của khởi nghiệp Đối với cá nhân Có rất nhiều lý do để ngăn cản một người khởi nghiệp như: kinh doanh là mạo hiểm, nợ nần chồng chất, bị mất ngủ, phải hi sinh đời sống xã hội và nhiều cái tương tự. Tuy nhiên, vẫn có người bất chấp rủi ro để tạo dựng sự nghiệp của mình. 6 Trên Entreprneur, Mike Templeman – CEO Foxtail Marketing (2017) đã nêu ra rất nhiều lý do nên bắt đầu kinh doanh ngay bây giờ như: Thoải mái về thời gian: tuy mới bắt đầu thì những người khởi nghiệp phải đánh đổi thời gian nhưng nếu đi đúng hướng thì sau đó họ sẽ bắt đầu làm chủ được thời gian biểu của mình và tận hưởng sự tự do của một doanh nhân. Tự hào về bản thân và công việc: khi tự mình gây dựng sự nghiệp, có tầm nhìn và đã biến nó thành hiện thực, điều này đáng để tự hào hơn là hoàn thành nhiệm vụ sếp giao.
Đảm bảo tương lai cho con cái: nếu làm những ngành nghề như bác sĩ, giáo viên sẽ không dễ dàng để truyền nghề lại cho người thân mình. Nhưng nếu có công ty riêng thì con cái hoàn toàn có thể thừa kế nó. Sự an toàn nghề nghiệp: Nếu làm việc cho người khác, những nỗi lo như cắt lương, sa thải luôn là điều đang lo lắng nhưng nếu có doanh nghiệp riêng thì điều này đã không còn là nỗi lo. Quan hệ rộng: Doanh nhân là những người của xã hội.
Họ thích gặp gỡ, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm của nhau. Vì thế, mà khi trở thành doanh nhân, mạng lưới bạn bè và người quen tức khắc mở rộng vì doanh nhân nhiều khi rất cần dựa vào nhau để cùng tồn tại và chia sẻ thách thức trong nghề. Làm việc tốt: Ai cũng có thể làm việc tốt, nhưng một doanh nhân sẽ làm được điều đó dễ dàng hơn. Doanh nhân nắm giữ lợi nhuận công ty và nếu muốn thì có thể phân bổ lợi ích của mình cho những người khác.
Doanh nhân có thể tài trợ cho một quỹ từ thiện, một tổ chức phi lợi nhuận hay đóng góp cho cộng đồng trên danh nghĩa cá nhân. Đây là một trong những điều tuyệt vời nhất để trở thành một doanh nhân. Được công nhận: Mỗi năm, có đến cả ngàn giải thưởng được trao cho các doanh nhân trong mọi lĩnh vực, từ cấp địa phương, khu vực tới cấp quốc gia. Dù đây không phải lý do duy nhất để khởi nghiệp, nhưng không thể phủ nhận cảm giác tuyệt vời khi nhận được giải thưởng này.
Đối với xã hội Khởi nghiệp doanh nhân bằng cách tạo lập nên một doanh nghiệp mới là động lực để phát triển kinh tế bởi một nền kinh tế phát triển là kinh tế đáp ứng được về cả số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp. Các nghiên cứu trên thế giới của Malecki 7 (1997), Reynolds (1994), Andretsch (2004) (trích dẫn trong Carree and Thurik, 2003) chỉ ra rằng mối liên hệ chặt chẽ giữa việc khởi nghiệp mới thành lập không những đóng góp vào GDP của nền kinh tế mà còn tạo ra việc làm để giảm thiểu tình trạng thất nghiệp. Tại các nước Châu Âu và Mỹ, thúc đẩy tinh thần doanh nhân được coi là hạt nhân cho tăng trưởng kinh tế. Kết quả cho thấy các trường đại học ở Mỹ như Học viện Công nghệ MIT hằng năm có khoảng 150 doanh nghiệp mới thành lập và hiện nay MIT có tổng số 5000 doanh nghiệp được thành lập, tuyển dụng, 1,1 triệu nhân viên và mang về doanh thu trung bình hiện nay đến 230 tỷ USD (Wang & Wong, 2004).
Mối quan tâm về nghiên cứu trong kinh doanh và giáo dục kinh doanh đã được phát triển trong vài năm qua (Ha tten và Ruhland, 1995; Green et al., 1996; Outcalt, 2000; Alstete, 2002; Morrison, 2000; Rohaizat và Fauziah, 2002; Klapper, 2004; Franket al., 2005; Gurol và Atsan, 2006). Một yếu tố góp phần vào việc này là tầm quan trọng của tinh thần kinh doanh trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trong thực tế, trong vài năm qua, thất nghiệp sau Đại học đã trở thành một vấn đề lớn. Ngoài ra, sinh viên tốt nghiệp hiện tại quá phụ thuộc vào chính phủ và khu vực tư nhân để làm việc.
Để giải quyết những vấn đề trên, sự xem xét lại hệ thống giáo dục Đại học của chúng ta là cần thiết để tìm ra những trở ngại cản trở sự phát triển của tinh thần kinh doanh. Ở Việt Nam, Chính phủ đang không ngừng nổ lực để thúc đẩy nền kinh tế thông qua khuyến khích khởi nghiệp. Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang ngày càng được xã hội công nhận khi đóng góp đang kể vào nền kinh tế với GDP chiếm khoảng 45% tổng GDP cả nước, hằng năm thu hút hơn 90% lao động mới làm việc (Ngô Quỳnh An, 2011). Nhận thúc được vấn đề quan trọng của khởi nghiệp, hiện nay Chính phủ Việt Nam có rất nhiều chính sách nhằm khuyến khích, hỗ trợ cũng như định hướng cho sinh viên Việt Nam có thể khởi nghiệp thuận lợi hơn (Phạm Thị Hải Yến, 2018).