Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bảo liiểm y lẽ trên thẻ giói. L Sự ra đời và phát triển: Sức khỏe dối với tất cà mọi người là một lài sản quý giá, một loại hàng hóa cao cấp. Mọi người luôn luôn hy vọng và mong muốn Ihường xu yẻn có một sức khỏe dổi dào, ổn đinh, đó chính là cơ sở cho một cuộc sống thoải mái.
Điều này sẽ tương phản với những lo âu và đau đớn về thể châì khi lâm bệnh và những hậu quà xâu cho xã hỏi. Sức khỏe không chì là điếu kiện cho sư bảo đàm tạo ra của cài vật chãi mà dặc biệt còn là cơ sỏ cho sự phái triển năng tực của mỏi cá nhân và tích cực cho mọi hoạt dộng xã hội Sức khóe khủng những gắn li ền với khâ nãng lao d ộng mà còn li ẻn quan đêu sự lành mạnh thoải mái và thịnh vượng xã hội. Khí ốm đau, người la cẩn phải dược bác sĩ khám bCnh. cần đến các loai thuốc men hoậc phài lưu trú tại bênh viện tức là họ phải cân đến các cơ sở khám chữa bệnh, dịch vụ và hàng hóa của ngành y tế.
Vàn đề khám bệnh và chữa trị bệnh không chi dơn thuần liên quan đèn y tế, xã hội mà còn liên quan một cách rất chạt chẽ đốn các yếu lô kinh tê' như chi (rả cho các dịch vụ V tế, thuốc men, vật tư phục vụ cho việc khúm chữa bệnh. Trong cuộc sủng của mỗi con người luôn luôn có nhừng nguy cơ rùi ro tiêm ẩn như bệnh tật, tai nạn. Khi ốm đau, bệnh tạt ờ mức dợ nhẹ mà sự chi phí cho sự rủi ro đó người bệnh có thử lự chi trà mà không cẩn đến sự giúp đỡ của các cá nhân khác. Tuy nhiên có thế có những rủi ro rất nặng mà chi phí cho nó lớn đến mức không phải ai cũng cớ khả năng chi trả, chính vì điều này cán có sự giúp đỡ của cộng đổng.
Sự chĩa sẻ rủi ro trong cộng dồng dó là hình thức hoạt động bào hiểm. Trên thê' giới hoạt dộng BHYT đã được hình thành từ rất ỉâu. Cộng hòa liên bang Đức thực hiỄn chê' dó bảo hiểm y té từ năm 1883 sau khi luật vế BUY í' đối với cóng nhân dược ban hành. Quỹ BHYT đầu tiên ra đời ố Đức nhàm bào vệ cho các thợ thú cóng khĩ gặp ốm đau, tai nạn mà trong các trường hợp như vảy họ không dù khả năng lài chính dể chi trà các chi phí y tê'- họ cẩn phải có sự giúp đỡ của cộng dổng thông qua một quỹ do nhiêu người đóng góp [11], 5 Ngày nay thê' giới đang chứng kiến những thành tựu to lớn về V học hơn bất kỳ thời kỳ nào trong lịch sử.
Các tiến bộ về kinh tê' - xã hội, công nghệ và các can thiệp về y học cùng với các chính sách xã hội. đặc biệt trong giáo due và y lố đã tạo ra những tiến bộ lớn lao trong sự phát triển của con ngtrời. Chính sự gia tãng cùa công nghệ y học làm gia tảng chi phí trong chăm sóc y tế, chi phí y tế trờ thành gánh nặng cho tất cả các quốc gia trẽn thê' giới. Hình thức chi trà chi phí khám chữa bệnh nguổn quỹ BHYT đã trờ nên phổ biến và trờ thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội.
Chia sẻ nguồn tài chính là chức năng cơ bản của hệ thống BHYT. với mục đích làm phân tán bói các nguy cơ tài chính và sức khỏe trong cộng đổng. Chia sẻ được định nghĩa như là tích góp và quản lý nguổn thu theo đó nguy cơ phải chi trả cho chăm sóc y tế do tất cả các thành viên cùng gánh vác chứ không phải chỉ có những người đóng góp, 1. Tình hình bảo hiểm y tê' ở một số nước trên thê giới.
Bảo hiểm y tê' xã hội được coi như một phương pháp cấp tài chính y tê' ớ nhiều nước. Nãm 199S hơn 50% các nước công nghiệp dã chọn loại hình BHYT xã hội như là một cơ chê' cung cấp tài chính y tê' [10]. - Nhật Bàn: Thực hiện luật B1ĨYT bắt buộc lừ năm 1922. Hội đồng bào hiểm thuộc chính phủ Nhật Bản được thành lập, khuyến cáo chính phù thực hiện chính sách BIĨYT toàn dân.
Tuy vậy tới nãm 1961 Nhật Bàn mới bất đầu triển khai BHYT toàn dân. Có hai loại quỹ BHYT ở Nhật. Loại quỹ thứ nhất là BHYT quốc gia (National Health Insurance) với 45 triệu thành viên bao gổm người lao động tự do, nông dân và người không có nghề nghiệp. Loại thứ hai là BHYT cùa người làm cồng ân lương vói khoảng 61 triệu người.
Bệnh nhản BHYT cùng chi trả chi phí KCB với các mức khác nhau: người lao dộng tự do trá 30%. công chức trả 20%, người lao động được hường lương trà 10%[17]. Sau hơn 40 năm thực hiện BHYT toàn dân, BHYT Nhật Bản dang dứng trước thừ thách khủng hoàng tài chính do sự mất cản đối thu chi. Sau nhiều nãm liên tục bội chi.
quỹ dự phòng của BHYT quốc gia Nhật Bàn hoàn toàn cạn kiệt vào năm 2000. Nhu cáu cấp bách cùa hệ thống BHYT Nhật bản hiện nay là làm sao giảm thiểu 6 chi phí y tế nhưng vồn đảm bảo chãi lượng của các dịch vụ y tế, Ba giải pháp cơ bản đang được triển khai là: + Sử dụng thuốc hợp lý. + Thay dổi phương thức thanh toán (heo giá dịch vụ bang phương thức thanh toán khác. + Thực hiện KCB theo dứng tuyến chuyên mởn kỹ thuât.
- Hàn Quốc: Năm 1977 Hàn Quốc ban hành luật BHYT bai buộc toàn dân và sau 12 năm gổn 100% người Hàn Quốc có BHYT. Mặc dù vậy quỹ BHYT vẫn lâm vào tình Irạng bội chi trong giữa những năm thập kỷ 90. Hàn Quốc bắt buộc phải nghiên cứu chuyên đổi phương thức thanh toán theo phí dịch vụ sang phương thức thanh toán (heo chẩn đoán, Năm 1997 có 3% dân sử là người nghèo ở Hàn Quốc được cáp thê BHYT. Nguổn thu cùa BHYT cùng nàm là 5.
trong đó 64,5% do người tham gia BHYT đóng góp, Nhà nước hổ trợ 13,2%, phần còn lại lấy từ nguồn lãi do dầu tư láng trưởng. Mức đóng góp BHYT lính theo ihu nhập hoặc tài sản cô' định. Thũng thường người lao động đóng 2 - 8% ihu nhạp, số còn lại do chủ sử dụng lao dộng đóng. Công chức đóng 4,2% thu nhập.
Chính phù hỗ trợ 4,2%. Đới với người lao động lự do mức đóng được lính theo mức xếp loại thu nhạp hoặc tài sàn cổ định. Ngân sách nhà nước hỗ trợ 30% mức phí nhầm mục đích đảm bào chi quản lý. Người dân Hàn Quốc cùng chi trà nhiều tiển khi đĩ KCB, năm 1997 ngườĩ dân tự trả 61,1% chí phí ngoại trú và 39,3% chi phí nội trú.
Theo sứ liệu cùa Cục BHYT Quổc gia Hàn Quốc (National Health Insurance Corporation) thì nãm 1998 người dân Hàn Quốc vẫn lự chi Irả tới 58% tổng chi phí chăm sóc sức khoẻ, BHYT Hàn Quốc khóng chi trả chi phí các kỹ Ihuât siêu âm, chụp cộng hường từ hạt nhân (MR1), điổu trị bằng y học cổ truyền, chi phí ở buồng bệnh dưới 6 giường. Mức cùng chi trả 20% dối với điều trị nội trú , từ 40% - 55% đối vớĩ KCB ngoại trú[17]. - Cộng hoà liên bang Đức'. BHYT được thành Ịập từ nâm 1883, đến cuối nãm 1992 nhàm cải thiện tình hình thực hiện chế đỏ BHYT trong điểu kiện thống nhất hai mien nước Đức, Chính phú Đức dã thòng qua Bỏ luâi cải cách mới, trong 7 dó quy đinh Lãng lệ phí đối với dịch vụ y lê' và nha khoa trong 3 nãrn từ 1993 - 1995 irong niộl giới hạn nhất định và thực hiện kiểm soát đối với việc diếu trị ngoại trú.
Cho đến nay khoáng 90% dàn số nước Đức đang tham gia BHYT. Nãm 1991 có 31 triệu người lao dộng tham gia BHYT bát buộc; 14,2 triệu người về hưu; 5,1 triệu người tham gia BHYT tự nguyên và cú tới 20,6 triệu người được thừa hường BÍỈYT, Tốc đô tảng chi chu BHYT trong gần 4 (hẠp kỷ qua đã vượt qua Lốc dộ tâng lương và Lãng tổng sàn phẩm xã hội[ 11 ]. - Bangladesh, An Độ, Indonesia, Nepal, Myanmar và Thái Lan có hệ thống cung cấp làí chính V tê’ hỏn hợp với các loại hình khác nhau cùa BHYT xã h ội v ới t ỷ l ồ tham gia nh ất đ ịnh c ủa c ộng đổng từ 3-20%, Trong hàu hết các trường hợp người tham gia BHYT xã hội tập trung vào những dôi tượng có công ăn việc làm như công chức nhà nước, công nhân có việc làm chính thức và thành viên trong gìa dinh cùa họ. Với dí li lượng này việc thu phí đóng góp kể cả dõi người lao dộng.
Một sớ nước trong đó đang cô' gắng mờ rộng các loai hình BHYT xã hội khác dê làm sao có 100% hoác gán như toàn bộ đô') tượng (ham gĩa[ 10], - ĩitio hiểm y tế học sinh ờ Ai Cập: BHYT ỏ Ai Cập đã có từ 39 năm trước dãy (nãm 1965) nhưng đến nẫm 1998 mới chỉ có khoảng 5 triệu người tham gia, mà hầu hết là những người có thu nhập không ôn định hoặc người vể hưu. Đối tượng chưa được tham gia BHYT chủ yếu là trc cm dưới 15 tuổi. Nhưng từ đầu năm 1999 Chính phủ Ai Cặp dã có sự cải cách hoạt dộng BHYT, bảng cách ban hành chính sách dưa học sinh vào dối tưựng thực hiện BHYT. Cụ thể là thực hiện BHYT học sinh thông qua nhà trường và chỉ có thông qua nhà trường thì học sinh mới được tham gia BHYT.
còn nếu tự mình tham gia thì không được phép. Hơn nữa Chính phủ Ai Cập đã dể ra một mức phí hợp lý là mệnh giá thè chi 2 USD (tương dương 30.000đ tiền Việt Nam). Với mức phí như vậy nèn nhiêu học sinh có thể dẻ dùng tham gìa BHYT. Hiện nay Ai Cập đang ráo riết tiên hành cài cách chính sách BHYT đi đôi v ới th ực hiện cải cách dịch vụ y tế, phục vụ cho người bệnh có thè BHYT.
t ạo đi ều kiện thuạn lợi tiến tới BHYT toàn dân. Nhờ đó chì sau gần 3 nảm đà có gần 15 triệu học sinh có BHYT. Ngoài ra Chính phù Ai Cập còn quy dịnh trích một phần tỳ lệ phí quàng cáo thuớc lá dể hõ trợ cho quỹ BHYT học sinh. Tuy nhiên vẫn 8 còn một bộ phận học sinh chưa (ham gia BHYT là do ảnh hưởng của phong lực vãn hóa nên một số gia đình không cho con em mình đĩ học.
Đến nay ờ Ai Cập dã có trên 50% dãn số có BHYTỊ1S]. Bài học BHYT toàn dân của một số nước trong khu vực.