Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, nghiên cứu gồm có 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quyết định lựa chọn điểm đến của khách du lịch Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng 4: Một số giải pháp và đề xuất kiến nghị 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN ĐIỂM ĐẾN CỦA KHÁCH DU LỊCH. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm về du lịch. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc – UNWTO: Du lịch là bao gồm tất cả mọi hoạt động của những du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc nghỉ ngơi, giải trí, thƣ giãn; cũng nhƣ mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhƣng không quá 1 năm, ở bên ngoài môi trƣờng sống định cƣ; nhƣng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền.M và cộng sự (2012) thì du lịch là việc di chuyển của một ngƣời từ một điểm khởi hành đến các điểm đến.
Du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiện tƣợng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trƣởng về nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi của môi trƣờng xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên. Phần lớn các nghiên cứu khái niệm về du lịch đều cho thấy nó phụ thuộc rất nhiều vào cách định nghĩa điểm khởi hành và điểm đến. Theo Luạ t Du lịch (2017) của Viẹ t Nam, có hiẹ u lực từ ngày 01/01/2018, quy định “ u ị o t đọ n i n qu n đến u ến đi on n u in o i no i u tr t u n u n tron t i i n n qu n m i nt n mđ p n n u ut m qu n n uỡn i i tr t m iểu mp tài n u n u ị oặ ết pv im đ pp p ”. Qua thời gian, khái niệm về du lịch đƣợc bổ sung và hoàn thiện về nội hàm.
Tuy nhiên, nội dung của khái niệm này có thể khái quát qua 03 nhân tố cơ bản là: (1) du lịch là sự di chuyển một cách tạm thời trong một thời gian nhất định, có điểm xuất phát và quay trở về điểm bắt đầu; (2) du lịch là hành trình tới điểm đến, sử 6 dụng các dịch vụ nhƣ dịch vụ lƣu trú, ăn uống… và tham gia các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách ở các điểm đến. (3) chuyến đi có thể có nhiều mục đích riêng hoặc kết hợp, loại trừ mục đích định cƣ và làm việc tại điểm đến. Khái niệm khách du lịch Theo mọ t số nhà nghie n cứu, khái niẹ m khách du lịch lần đầu tie n xuất hiẹ n vào cuối thế kỉ XVIII tại Pháp và đu ợc hiểu là: u ị n n n u it ự i n mọ t cuọ n tr n n '. Vào đầu thế kỉ XX, nhà kinh tế học ngu ời Áo, Josef Stander định nghĩa: u ị n n n đi i it o t n o i no i u tr t u n u n để t m n n u u sin o t o pm o n t o đu i m đ in tế.
Luật Du lịch Việt Nam 2017 có quy định về khái niệm và phân loại của khách du lịch nhƣ sau: “Khách du lị n ư i đi u ịch hoặc kết h p đi u ịch, trừ trư ng h p đi ọc, làm việ để nhận thu nhập nơi đến”. Theo đó, khách du lịch bao gồm: khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nƣớc ngoài. Cụ thể, các loại khách du lịch này đƣợc định nghĩa nhƣ sau: (1) Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam; (2) Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài vào Việt Nam du lịch.; (3) Khách du lịch ra nƣớc ngoài là công dân Việt Nam và ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú ở Việt Nam đi du lịch nƣớc ngoài. Khái niệm điểm đến.
Trong tiếng Anh, từ “Tourism Destination” đƣợc dịch ra tiếng Việt là điểm đến du lịch. Theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO): Điểm đến du lịch là một không gian vật chất mà du khách ở lại ít nhất một đêm. Nó bao gồm các sản 7 phẩm du lịch, dịch vụ hỗ trợ, điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gian một ngày. Nó có các giới hạn vật chất, hình ảnh và sự quản lý trong thị trƣờng cạnh tranh.
Các điểm đến du lịch thƣờng là một cộng đồng, một tổ chức và có thể kết nối lại với nhau để tạo thành một điểm đến du lịch lớn hơn. Theo Viện nghiên cứu Phát triển du lịch (2000): Điểm đến du lịch là một khái niệm rất rộng nằm trong hoạt động kinh doanh du lịch, là nơi có sức hấp dẫn và thu hút đối với khách du lịch. Điểm đến du lịch phát triển dựa vào tài nguyên du lịch. Theo Cooper và cộng sự (2004): Điểm đến du lịch giống nhƣ nơi tập hợp các dịch vụ và điều kiện thuận lợi đƣợc thiết kế sẵn nhằm đáp ứng các nhu cầu của du khách.
Thực chất, một điểm đến có đầy đủ các khía cạnh của ngành du lịch nhƣ nhu cầu, vận chuyển, cung cấp dịch vụ và tiếp thị. Nó là yếu tố quan trọng nhất của hệ thống du lịch vì điểm đến và hình ảnh điểm đến có thể thu hút khách du lịch, thúc đẩy du khách đến và tiếp sức cho toàn bộ hệ thống du lịch. Khi xem x t vị trí của từng điểm đến trong chuyến đi của khách, ngu ời ta chia điểm đến du lịch thành 2 loại: - Điểm đến cuối cùng (Final destination) thu ờng là điểm xa nhất tính từ điểm xuất phát gốc của du khách hoạ c là địa điểm mà khách dự định sử dụng phần lớn thời gian. - Điểm đến trung gian (Intermediate destination) hoạ c điểm gh tha m (Enroute) là địa điểm khách dành thời gian ngắn ho n để nghỉ ngo i qua đe m hoạ c tha m viếng mọ t điểm hấp dẫn du lịch (Ngô Thị Diệu An, 2014).
Trên cơ sở khái niệm về điểm đến du lịch và xét theo tiêu chí về địa lý, có thể phân chia điểm đến du lịch theo các mức độ hay qui mô cơ bản sau đây: (1) các điểm đến có qui mô lớn là điểm đến của một vùng lãnh thổ hay ở cấp độ Châu lục nhƣ khu vực Đông Nam Á, Nam Mỹ, Châu Âu, Châu Á, Châu Phi…; (2) điểm đến vĩ mô là các điểm đến ở cấp độ của một quốc gia; 8 (3) điểm đến vi mô gồm các vùng, tỉnh, thành phố, quận huyện thậm chí là 1 xã, thị trấn… Căn cứ vào hình thức sở hữu: có thể phân loại đó là điểm đến thuộc sở hữu nhà nƣớc hay tƣ nhân. Căn cứ vào vị trí: có thể phân loại điểm đến là ở vùng biển hay vùng núi, là thành phố hay nông thôn. Căn cứ vào giá trị tài nguyên du lịch: có thể phân loại đó là điểm đến có giá trị tài nguyên tự nhiên hay nhân văn. Căn cứ vào đất nƣớc: có thể phân loại điểm đến là điểm đến du lịch là một đất nƣớc hay một nhóm đất nƣớc, hay có thể là một hay một nhóm đất nƣớc, hay có thể là một khu vực.
Căn cứ vào mục đích: có thể phân loại điểm đến sử dụng với mục đích khác nhau. Căn cứ vào vị trí quy hoạch: đó là điểm đến thuộc trung tâm du lịch của vùng hay là những điểm đến phụ cận. Tóm lại, từ góc độ khoa học về du lịch, khái niệm điểm đến du lịch trở thành đối tƣợng nghiên cứu gắn với sự chuyển động của dòng du khách cũng nhƣ ý nghĩa và sự tác động của dòng du khách đối với điểm đến. Nghiên cứu này tiếp cận khái niệm điểm đến du lịch nhƣ là một sản phẩm du lịch gồm cả nhân tố hữu hình nhƣ biên giới địa lý, điểm thu hút, cơ sở hạ tầng.
lẫn vô hình nhƣ thƣơng hiệu, danh tiếng của điểm đến. Mô hình về hành vi khách du lịch và lựa chọn điểm đến. Khái niệm về hành vi tiêu dùng du lịch Theo Solomon (2006), hành vi tiêu dùng du lịch là "quá trình các cá nhân hoặc nhóm tham gia tìm kiếm, lựa chọn, mua sắm, sử dụng hay hủy bỏ các sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu và mong muốn du lịch. Quyết định lựa chọn sản phẩm là những hoạt động của quyết định mua cho nên quá trình ra quyết định lựa chọn các sản phẩm du lịch cũng chính là quá trình ra quyết định mua.
Trong quá trình này, ngƣời tiêu dùng cũng trải qua các bƣớc 9 về cơ bản giống nhƣ trong quá trình ra quyết định mua sản phẩm nói chung. Từ góc độ trên, hành vi tiêu dùng du lịch trả lời câu hỏi nhƣ: Du khách mua sản phẩm du lịch gì? Tại sao họ mua sản phẩm đó? Mua sản phẩm du lịch ở đâu? Mức độ tƣờng xuyên mua sản phẩm du lịch nhƣ thế nào? Việc đánh giá sản phẩm du lịch của du khách trƣớc/trong/và sau khi mua sản phẩm? Mức độ ảnh hƣởng của việc đánh giá đó đến hành vi mua sản phẩm du lịch cho các lần mua tiếp theo nhƣ thế nào?. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, hành vi tiêu dùng trong du lịch bao gồm hai khía cạnh, đó là những quyết định mang tính trí óc (ý nghĩ) và những hành động vật chất của cơ thể đƣợc tạo ra từ những quyết định đó (Nguyễn Văn Mạnh, 2009). Theo tác giả (Trần Minh Đạo, 2012), hành vi mua của ngƣời tiêu dùng là toàn bộ hành động mà ngƣời tiêu dùng bộc lộ trong quá trình trao đổi sản phẩm.
Hay nói cách khác, hành vi mua của ngƣời tiêu dùng là một quá trình ra quyết định từ việc nhận biết nhu cầu, đến tìm kiếm thông tin, đánh giá các phƣơng án, quyết định mua và đánh giá sau khi mua. Khi áp dụng vào trong du lịch, quá trình này trở nên phức tạp hơn bởi tính vô hình của sản phẩm du lịch cũng nhƣ tính gián đoạn và tích lũy trong khi tiêu dùng (Corria, Santos, & Pestana Barros, 2007). Việc nghiên cứu hành vi của ngƣời tiêu dùng là nghiên cứu cách thức mà ngƣời tiêu dùng đƣa ra quyết định để sử dụng nguồn lực sẵn có của mình nhƣ tiền bạc, thời gian. đến việc tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân (Kotler, 2000).