Chương 1 – TỔNG QUAN 1.1 Tiềm năng nguồn gen lúa địa phương Việt Nam Nhiều nhà khoa học trên thế giới cho rằng Việt Nam là một trong những Trung tâm khởi nguyên của cây lúa trong vùng Đông Nam Á, Ấn Độ, Miến Điện, Đông Dương. Đất đai đa dạng, khí hậu nóng ẩm, lượng mưa cao là những điều kiện thích hợp cho cây lúa phát triển ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam có 54 dân tộc khác nhau, mỗi dân tộc có tập quán canh tác và sở thích về phẩm chất lúa gạo khác nhau. Sự đa dạng về văn hóa dân tộc là nguyên nhân quan trọng tạo nên sự đa dạng về tài nguyên di truyền lúa.
Thông qua các nghiên cứu về tiến hóa và sự đa dạng di truyền của các chi thuộc chi lúa Oryza, các nhà khoa học đã khẳng định miền Bắc Việt Nam nằm trong khu vực xuất xứ của loài lúa trồng châu Á (Oryza sativa L. Rất nhiều giống lúa địa phương đã được phát hiện là nguồn gen quý có thể cung cấp cho công tác chọn tạo giống lúa mới (giống kháng, chống chịu. Theo một số nghiên cứu, hiện nay ở Việt Nam có 4 loài lúa hoang dại: Oryza rufipogon, Oryza nvara, Oryza officinalis, Oryza granulata. Trong số các nguồn gen thuộc 4 loài lúa hoang dại này, một số nguồn gen có khả năng kháng, chống chịu với sâu (rầy nâu, rầy lưng trắng .), bệnh hại (vi rút, đạo ôn, bạc lá .) và điều kiện bất lợi (mặn, hạn, ngập úng, lạnh .); đặc biệt là một số nguồn gen có khả năng quang hợp trong điều kiện ánh sáng tán xạ.
Theo Lưu Ngọc Trình, 1995, Việt Nam được xem là một trong những nơi xuất xứ của cây lúa trồng châu Á. Bên cạnh đó, trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại ba nhóm giống lúa cổ truyền có đặc tính di truyền khác nhau: 1/ Nhóm giống lúa Việt Thái ở vùng núi phía Bắc, chủ yếu là lúa nương. Đây là một trong những nhóm giống lúa có sự đa dạng di truyền cao nhất thế giới. 2/ Nhóm giống lúa Việt mang đặc tính thâm canh ở vùng đồng bằng Sông Hồng.
Đây là nhóm lúa có những tài nguyên đặc trưng cho tài nguyên di truyền lúa Việt Nam như: lúa Chiêm, lúa Tám thơm. Lúa Chiêm có những nguồn gen quý nổi tiếng thế giới như gen kháng đạo ôn, gen chịu đất chua phèn, chịu đất nghèo lân, 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chịu rét thời kỳ mạ và thời kỳ lúa trỗ. Nguồn gen kháng đạo ôn của bộ giống lúa chiêm Tẻ tép được Viện nghiên cứu lúa Quốc tế và nhiều quốc gia trồng lúa khác sử dụng rộng rãi trong đầu thập kỷ 60 để lai tạo nhiều giống lúa cao sản. Lúa chiêm chỉ còn tồn tại ít trong sản xuất nhưng giá trị nguồn gen của lúa chiêm là vô cùng quý giá.
Lúa Tám thơm là một trong ba nhóm giống lúa thơm chính trên thế giới. 3/ Nhóm giống Việt – Kh’mer mang đặc tính quảng canh của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tài nguyên di truyền lúa thuộc nhóm này có các nguồn gen đặc trưng là lúa nổi, lúa chịu nước sâu, lúa chịu đất chua phèn, lúa chịu mặn, lúa có dạng hạt thon dài thích hợp cho xuất khẩu. Sự phong phú về điều kiện tự nhiên, sự đa dạng các thành phần dân tộc, sự phân bố cư trú ở các độ cao với những tập quán canh tác và thị hiếu sử dụng lúa khác nhau, đã tạo nên sự đa dạng nguồn gen lúa địa phương ở Việt Nam.
Các nguồn gen sẽ là nguồn vật liệu quý giá cho công tác lai tạo, cải tiến lúa ở hiện tại và tương lai, đặc biệt là khi áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến vào công tác đánh giá di truyền, sàng lọc nguồn vật liệu ban đầu phục vụ chọn tạo giống, nhằm phát triển nền nông nghiệp bền vững, đảm bảo an ninh lương thực và bảo vệ môi trường. Đất mặn và cơ chế chống chịu mặn ở lúa 1. Đất mặn Tất cả các loại đất đều có chứa một lượng muối tan nào đó. Trong số đó có nhiều loại muối là các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng.
Tuy nhiên, khi số lượng các muối trong đất vượt quá giá trị cho phép, thì sự phát triển, năng suất, chất lượng của hầu hết các loại cây đều bị ảnh hưởng xấu, mức độ ảnh hưởng tuỳ thuộc vào loại và số lượng muối có mặt trong đất, tuỳ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng, vào loại thực vật và các yếu tố môi trường. Do đó khi đất chứa một lượng muối gây cản trở và ảnh hưởng đến chức năng cần thiết để cây sinh trưởng, thì đất đó được gọi là đất bị ảnh hưởng bởi mặn (salt affected soil). Tóm lại, rất khó có thể định nghĩa đất mặn một cách chính xác và đầy đủ, vì vậy dựa vào chỉ tiêu độ dẫn điện EC, hoặc phần trăm Na+ trao đổi (EPS) hoặc tỉ lệ hấp thu Na+ (SAR) và độ pH của đất bão hòa nước [19] đa số các nhà khoa học đã định nghĩa đất mặn là đất có độ 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dẫn điện EC cao hơn 4 dS/m ở nhiệt độ 25oC, phần trăm Na+ trao đổi (ESP) thấp hơn 15, và pH nhỏ hơn 8,5 [1]. Đất mặn được chia làm 2 dạng: đất mặn duyên hải và đất mặn nội địa.
- Đất mặn duyên hải: xuất hiện ở vùng ven biển, tính mặn chủ yếu do tràn ngập của nước biển và nước thường có pH thấp, đất mặn ven biển thường có tổng số muối tan lớn hơn 0.5% (tương đương với > 0,15% Cl-) và nếu đạt mức nhiễm mặn trung bình thì tổng số muối tan lớn hơn 0,25% (≈ 0.05 % Cl-) - Đất mặn nội địa: xuất hiện ở vùng khô và bán khô, tính mặn do nước dẫn thủy hoặc nước ngầm, sự bốc hơi cao dẫn đến muối tập trung ở vùng rễ và đất thường có pH cao. Cơ chế thích nghi stress mặn ở thực vật Nồng độ muối cao trong đất là nguyên nhân gây ra 2 vấn đề chính đối với thực vật: (1) giảm điện thế nước trong đất gây khó khăn cho sự hấp thụ nước, dẫn đến tính trạng thiếu nước; (2) sự tích tụ hàm lượng Na+ và Cl- cao gây độc đối với tế bào thực vật [19] và gián tiếp gây độc do khó hấp thụ các chất dinh dưỡng cần thiết khác. Khả năng chống chịu mặn của thực vật phụ thuộc vào sự thích nghi sinh lý, sinh hóa và phân tử được kích hoạt bằng bộ gen để sống sót trong môi trường muối. Bộ gen được hoạt hóa cơ chế thích ứng mặn sau khi tất cả các ức chế được nhận biết và gửi đến (Hình 1.
Cơ chế thích ứng sẽ thiết lập lại sự vận chuyển nước, giới hạn hấp thụ Na+ và Cl- hoặc làm giảm nồng độ của chúng trong tế bào chất và cho phép hấp thụ các ion cần thiết cho quá trình sinh trưởng. Thực vật cảm nhận stress mặn là do điện thế nước trong môi trường thấp,cây không thể hút nước và dẫn đến bị mất nước, kết quả là sự sinh trưởng bị ức chế và dần bị chậm lại. Vì thế, để có thể chống chịu với điều kiện điện thế nước thấp do stress mặn gây ra, thực vật phải điều chỉnh quá trình thoát hơi nước, từ đó có thể giới hạn sự mất nước hoặc là tiến hành điều chỉnh điện thế thẩm thấu. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Cơ chế thích nghi stress chung ở thực vật [19] Ngoài ra, stress ion do cây hấp thụ chủ yếu các ion độc Na+ và Cl- vào trong tế bào và sự không cân bằng các ion (Ca+, K+, Mn2+, Mg2+, NO3-, PO4-, SO4- .) sẽ gây rối loạn trao đổi chất của tế bào, ức chế hoạt động enzyme và các chất kích thích sinh trưởng [19]. Đồng thời, các hoạt động sinh lý của tế bào cũng bị ảnh hưởng như: quá trình quang hợp giảm mạnh [60], quá trình tổng hợp sắc tố bị ức chế trong khi đó quá trình hô hấp lại tăng nhanh, các cơ chất bị phân hủy lớn nhưng hiệu quả năng lượng thấp, vì vậy thực vật không bù đủ lượng vật chất do hô hấp phân hủy, chất dự trữ dần dần bị hao hụt, cây không sinh trưởng được, còi cọc, năng suất thấp, và nếu kéo dài sẽ dẫn đến bị chết. Để có thể sinh trưởng trên đất mặn, và hạn chế ảnh hưởng của Na+ và Cl- , thực vật đã phát triển cơ chế điều hòa với chiến lược [19] giảm sự xâm nhập và giảm nồng độ của Na+ trong tế bào chất bằng cách loại thải và tạo vách ngăn cô lập ion Na+ và Cl- trong không bào, ưu tiên hấp thụ K+ (là ion đóng vai trò quyết định trong việc đóng mở khí khổng, hoạt hóa enzyme, quang hợp và điều hòa áp suất thẩm thấu) để duy trì tỉ lệ K+/Na+ trong chất nền [18]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phản ứng chống chịu mặn ở lúa Sự sinh trưởng và năng suất lúa bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi yếu tố stress của môi trường dưới điều kiện khí hậu khô và bán khô hạn trên thế giới, đặc biệt là stress mặn. Lượng muối vượt quá mức cho phép sẽ ảnh hưởng đến sự trao đổi chất ở cây lúa như: gây tổn thương thành tế bào và lưới nội chất, gây co nguyên sinh, giảm sự quang hợp, suy giảm toàn bộ sự nảy mầm và phát triển của mạ, cuối cùng dẫn đến quá trình sinh trưởng kém và sản lượng hạt giảm [14]. Khả năng chống chịu mặn của lúa biểu hiện tùy theo từng giai đoạn sinh trưởng: - Giai đoạn nảy mầm và mạ non: stress mặn chỉ kéo dài thời gian mà không làm thiệt hại nhiều đến khả năng nảy mần của lúa. Tuy nhiên ở giai đoạn mạ non (2- 3 lá), sự ảnh hưởng của stress mặn phụ thuộc vào từng giống lúa.
Stress mặn ảnh hưởng đến sự gia tăng chiều dài lá và quá trình hình thành lá mới, cũng như là sự phát triển rễ của mạ. - Giai đoạn đẻ nhánh tích cực và giai đoạn sinh trưởng tăng trưởng: lúa có khả năng chống chịu trong giai đoạn này. Một số tính trạng như chiều cao cây, trọng lượng khô của rễ, chiều dài rễ, thời gian sinh trưởng bị ảnh hưởng với các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, khi thời tiết có nhiệt độ cao (30,7oC) và độ ẩm thấp (63,5%) stress mặn sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng hơn vì sự thoát hơi nước và hấp thụ mặn của lúa gia tăng.