Tổng quan luận án

Công tác cán bộ được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là "công việc gốc" của Đảng, có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) giữ vai trò là nền tảng của hệ thống chính trị, nơi trực tiếp tổ chức đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, đồng thời là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, chính quyền với nhân dân. Nơi nào làm tốt công tác cán bộ cơ sở, xây dựng được đội ngũ cán bộ chủ chốt có phẩm chất, năng lực và uy tín thì nơi đó kinh tế - xã hội phát triển ổn định, quốc phòng - an ninh được giữ vững. Ngược lại, những nơi buông lỏng công tác cán bộ, đội ngũ cán bộ suy thoái, yếu kém sẽ dễ phát sinh điểm nóng chính trị - xã hội.

Tại Nghệ An - địa bàn có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước, địa hình chia cắt phức tạp, cơ cấu dân cư đa dạng - từ năm 1996, Đảng bộ tỉnh đã tập trung lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở, góp phần đưa địa phương từng bước phát triển. Tuy nhiên, trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của tỉnh vẫn bộc lộ những bất cập về trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và cơ cấu. Do đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở giai đoạn 1996 - 2015 là yêu cầu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo và đúc kết những kinh nghiệm trong xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp cơ sở từ năm 1996 đến năm 2015.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.
  2. Làm rõ những yếu tố tác động đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của Đảng bộ tỉnh Nghệ An từ năm 1996 đến năm 2015.
  3. Hệ thống và phân tích chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1996 đến năm 2015; làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở qua hai giai đoạn: 1996 - 2005 và 2005 - 2015.
  4. Đánh giá những ưu điểm, hạn chế và đúc kết một số kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của Đảng bộ tỉnh Nghệ An từ năm 1996 đến năm 2015.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của Đảng bộ tỉnh Nghệ An từ năm 1996 đến năm 2015.

Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Về nội dung: Tập trung vào quá trình lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ giữ các chức danh chủ chốt tại xã, phường, thị trấn, bao gồm: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ; Chủ tịch Hội Nông dân; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cấp xã. Nội dung nghiên cứu bao quát các khâu: đánh giá, quy hoạch và tạo nguồn cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng; bổ nhiệm, quản lý và luân chuyển cán bộ; thực hiện chính sách cán bộ.
  • Về không gian: Địa bàn tỉnh Nghệ An.
  • Về thời gian: Từ năm 1996 (năm tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIV và chuẩn bị ban hành Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII về Chiến lược cán bộ) đến năm 2015 (năm tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và chuẩn bị tổng kết 20 năm thực hiện Chiến lược cán bộ).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm công trình:

Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về đội ngũ cán bộ nói chung

  • Các sách chuyên khảo, chuyên luận: Cuốn Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên) đã xác định các yêu cầu trí tuệ hóa, chuyên gia hóa, văn hóa hóa và tiêu chuẩn hóa cán bộ. Cuốn Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước do Vũ Văn Hiền chủ biên làm rõ chức năng, thẩm quyền và phương thức nâng cao chất lượng cán bộ lãnh đạo. Cuốn Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức của Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương phân tích yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền gắn với nguyên tắc "đức là gốc". Công trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước của Trần Đình Thắng tổng kết tiến trình cải cách công vụ. Các công trình của Trần Đình Hoan (Đánh giá quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước), Trần Xuân Sầm (Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới), Nguyễn Minh Tuấn (Tiếp tục đổi mới đồng bộ công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước), Trương Thị Thông và Lê Kim Việt (Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp), Cao Văn Thống và Đỗ Xuân Tuất (Chiến lược phát triển nhân tài của Việt Nam hiện nay), Lê Minh Thông và Nguyễn Danh Châu (Kinh nghiệm công tác nhân sự của một số nước), Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng và Lê Văn Yên (Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc) đã cung cấp các góc nhìn đa chiều về quy hoạch, luân chuyển, cơ cấu tiêu chuẩn, phòng chống tiêu cực và kinh nghiệm quốc tế.
  • Các luận án tiến sĩ tiêu biểu: Khăm Phăn Vông Pha Chăn (nghiên cứu đào tạo cán bộ tại Lào), Nguyễn Thị Tĩnh (nghiên cứu Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo xây dựng cán bộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2005 - 2015), Trần Thị Thanh Nhàn (phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc).
  • Các bài báo khoa học của Nguyễn Xuân Trung và Nguyễn Lê Thy Thương (về thu hút nhân tài ở Ấn Độ), Trần Văn Phòng (về quan điểm của Đảng từ Đại hội VI đến Đại hội XIII), Lê Việt Trung (về giải pháp nêu gương và kiểm tra cán bộ theo Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII).

Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở

  • Các sách chuyên khảo của Hoàng Chí Bảo (Hệ thống chính trị cơ sở nông thôn nước ta hiện nay), Chu Văn Thành (Hệ thống chính trị cơ sở, thực trạng và một số giải pháp đổi mới), Nguyễn Minh Phương (Vai trò của chính quyền cấp xã đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta), Nguyễn Duy Hùng (Luận cứ khoa học và một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường hiện nay), Mai Đức Ngọc (Vai trò của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong việc giữ gìn ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay), Trịnh Thanh Tâm (Chuẩn hóa chức danh chủ tịch ủy ban nhân dân xã và Xây dựng đội ngũ nữ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp xã), Cao Khoa Bảng (Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa Thủ đô).
  • Các luận án tiến sĩ chuyên ngành: Phạm Công Khâm (cán bộ chủ chốt cấp xã vùng Tây Nam Bộ), Nguyễn Văn Thiện (vai trò cán bộ cấp xã ở Bắc Trung Bộ), Phan Thúy Vân (chính sách cán bộ phường ở Tây Nam Bộ), Trần Thanh Sang (đào tạo cán bộ cơ sở Đồng bằng sông Cửu Long), Phạm Hồng Kiên (Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo xây dựng cán bộ cấp cơ sở 1997 - 2015).
  • Các bài viết khoa học của Mạch Quang Thắng, Nguyễn Minh Tuấn, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Thị Thu Hà, Đặng Thanh Hải, Nguyễn Thị Tâm, Hà Thị Thanh Hải... phân tích các khâu tạo nguồn, quy hoạch, chuẩn hóa chức danh, khắc phục tình trạng hành chính hóa cơ sở.

Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu tại tỉnh Nghệ An

  • Sách chuyên khảo và lịch sử: Nghệ An - Thế và lực mới trong thế kỷ XXI (Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh Nghệ An), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An, tập III (1975 - 2005) (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An), Lịch sử Nghệ An, tập 1, tập 2 (Trần Văn Thức chủ biên).
  • Đề tài khoa học và luận án: Đề tài của Nguyễn Thanh Chung (năng lực quản lý kinh tế - xã hội của cán bộ xã tại Nghệ An), đề tài của Trần Công Dương (đào tạo lý luận chính trị cho cán bộ cơ sở Nghệ An 1991 - 2005), Kỷ yếu Hội thảo khoa học Xây dựng Đảng qua 30 năm đổi mới tại tỉnh Nghệ An, luận án của Nguyễn Thị Mai Chi (chính sách xã hội miền núi Nghệ An 2001 - 2010), luận án của Trần Cao Nguyên (xây dựng cán bộ người dân tộc thiểu số các huyện miền núi Nghệ An 1996 - 2015).
  • Các bài viết của Lê Đức Cường, Lê Đình Lý, Nguyễn Thế Trung, Đặng Văn Trọng về xây dựng công chức, nguồn nhân lực và cán bộ địa phương.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về cán bộ và cán bộ cấp cơ sở dưới các góc độ Xây dựng Đảng, Chính trị học, Quản lý hành chính công hoặc tại các địa phương khác, nhưng dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng toàn diện đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) trên địa bàn toàn tỉnh trong trọn vẹn giai đoạn 1996 - 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được triển khai trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác cán bộ.

Về mặt khái niệm, luận án tiếp cận "Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở" là những người đứng đầu, giữ các cương vị chủ chốt trong 3 bộ phận cấu thành hệ thống chính trị cấp xã: tổ chức Đảng (Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy), chính quyền (Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND và UBND) và các tổ chức chính trị - xã hội (Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Chủ tịch Hội Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân, Bí thư Đoàn Thanh niên). Khung nội dung nghiên cứu bao quát 4 khâu nghiệp vụ: đánh giá, quy hoạch, tạo nguồn; đào tạo, bồi dưỡng; bổ nhiệm, quản lý, luân chuyển; và thực hiện chính sách cán bộ.

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng gồm:

  • Phương pháp lịch sử: Phục dựng chân thực, khách quan tiến trình lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An đề ra chủ trương và chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở qua các mốc thời gian, các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh từ năm 1996 đến năm 2015.
  • Phương pháp logic: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các sự kiện lịch sử để làm rõ bản chất, quy luật vận động, các ưu điểm, hạn chế và đúc kết những bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn.
  • Phương pháp liên ngành: Sử dụng phương pháp thống kê xã hội học để xử lý các bảng số liệu về số lượng, cơ cấu, trình độ chuyên môn, lý luận chính trị của cán bộ; phương pháp so sánh (giữa các giai đoạn, giữa các vùng đồng bằng và miền núi); phương pháp phỏng vấn, khảo cứu tư liệu thực tế tại địa phương.

Nguồn tư liệu nghiên cứu:

  • Văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
  • Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An (lần thứ XIV, XV, XVI, XVII); các nghị quyết chuyên đề, đề án, báo cáo tổng kết của Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Tỉnh ủy Nghệ An, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Huyện ủy và Đảng ủy cơ sở.
  • Các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của HĐND, quyết định và kế hoạch của UBND tỉnh Nghệ An, số liệu báo cáo lưu trữ của Sở Nội vụ tỉnh Nghệ An qua các thời kỳ.
  • Các sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu khoa học, kỷ yếu hội thảo và bài báo khoa học đã công bố liên quan đến đề tài.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này tập trung khảo cứu, phân loại và đánh giá có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài. Tác giả chia các công trình thành 3 nhóm lớn: nhóm nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đội ngũ cán bộ chung; nhóm nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở; nhóm nghiên cứu về công tác cán bộ tại địa bàn tỉnh Nghệ An. Chương 1 chỉ rõ những kết quả mà các học giả đi trước đã đạt được về mặt lý luận, phương pháp và tư liệu, đồng thời chỉ ra khoảng trống nghiên cứu lịch sử Đảng về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An đối với cán bộ chủ chốt cơ sở từ 1996 đến 2015, từ đó xác lập 4 vấn đề trọng tâm mà luận án trực tiếp đi sâu giải quyết.

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1996 đến năm 2005

Chương 2 phân tích các yếu tố tác động đến công tác cán bộ của Nghệ An thời kỳ đầu đổi mới và công nghiệp hóa: diện tích tự nhiên rộng (16.490 km2, miền núi chiếm 3/4 diện tích), đường biên giới 468 km, bờ biển 82 km; dân số 2,9 triệu người (lao động trên 1,6 triệu người), phân bố không đều (85% ở đồng bằng - đô thị, 15% ở miền Tây với các dân tộc Thái, Mông, Khơ mú, Thổ, Ơ đu). Địa bàn có 21 đơn vị hành chính cấp huyện, 469 xã, phường, thị trấn (115 xã vùng cao, 127 xã vùng núi thấp, 227 xã đồng bằng ven biển). Kinh tế xuất phát điểm thấp, năm 1995 tỷ lệ đói nghèo trên 36% (miền núi trên 70%).

Khảo sát thực trạng năm 1995 - 1996 cho thấy toàn tỉnh có 4.788 cán bộ chủ chốt cấp cơ sở. Đội ngũ này có bản lĩnh chính trị, gắn bó với nhân dân nhưng chất lượng chuyên môn và lý luận còn rất thấp:

Tiêu chí chất lượng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Nghệ An (năm 1996) Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ chưa qua đào tạo về chuyên môn (toàn tỉnh) 67,70%
Tỷ lệ chưa qua đào tạo về chuyên môn tại các xã vùng cao 86,75%
Tỷ lệ chưa qua đào tạo, bồi dưỡng về quản lý nhà nước 77,49%
Cán bộ giữ chức danh Bí thư, Phó Bí thư có trình độ đại học, cao đẳng 13,90%
Cán bộ giữ chức danh chính quyền có trình độ trung cấp chính trị 57,80%
Cán bộ giữ chức danh đoàn thể có trình độ đại học, cao đẳng 18,40%
Cơ cấu độ tuổi từ 41 tuổi trở lên 66,51%
Cơ cấu độ tuổi dưới 30 tuổi 4,78%

Tại huyện miền núi Kỳ Sơn năm 1996, có 51/399 cán bộ cơ sở trình độ văn hóa tiểu học (12%), 327/399 chưa qua đào tạo chuyên môn (81,9%) và 187/399 chưa đào tạo lý luận chính trị (46,8%).

Trước thực trạng đó, Đảng bộ tỉnh Nghệ An khóa XIV (1996 - 2000) và khóa XV (2001 - 2005) đã ban hành các chủ trương lớn: Nghị quyết Đại hội XIV đặt mục tiêu mỗi xã, phường có 3 - 5 cán bộ có trình độ đại học; Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 05/01/1997 của Tỉnh ủy đề ra chính sách trích 2% ngân sách tỉnh, huyện hàng năm cho công tác cán bộ, tài trợ kinh phí đào tạo 15 - 20 học sinh giỏi tốt nghiệp phổ thông vào đại học để bổ sung nguồn cán bộ cơ sở; Nghị quyết Đại hội XV và Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 16/8/2002 của Tỉnh ủy đặt mục tiêu chuẩn hóa 100% cán bộ chuyên trách. Trên thực tế, Tỉnh ủy đã chỉ đạo đồng bộ 4 khâu: đánh giá - quy hoạch tạo nguồn, đào tạo - bồi dưỡng, bổ nhiệm - luân chuyển - quản lý và thực hiện chính sách cán bộ, tạo bước chuyển biến căn bản về cơ cấu và trình độ so với giai đoạn trước.

Chương 3: Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 2005 đến 2015

Chương 3 luận giải các yêu cầu mới đặt ra trong giai đoạn 2005 - 2015 khi đất nước hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và triển khai Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Đảng bộ tỉnh Nghệ An (qua các kỳ Đại hội XVI nhiệm kỳ 2005 - 2010 và Đại hội XVII nhiệm kỳ 2010 - 2015) tiếp tục hoàn thiện các nghị quyết chuyên đề, đề án phát triển nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý cơ sở.

Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh tập trung vào:

  • Đánh giá, quy hoạch và tạo nguồn cán bộ: Đổi mới quy trình lấy phiếu tín nhiệm, đánh giá đa chiều gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương; xây dựng quy hoạch động và mở, chú trọng nguồn cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số.
  • Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: Gắn đào tạo lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ với bồi dưỡng kỹ năng xử lý tình huống thực tế; phối hợp với các cơ sở đào tạo, Trường Chính trị tỉnh và các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện để chuẩn hóa chức danh theo tiêu chuẩn ngạch công chức cấp xã.
  • Bổ nhiệm, quản lý và luân chuyển cán bộ: Thực hiện việc bố trí, sắp xếp theo đúng quy trình; đẩy mạnh luân chuyển cán bộ từ cấp huyện về giữ các vị trí chủ chốt cấp xã (Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND) ở các địa bàn khó khăn, phức tạp hoặc có biểu hiện mất đoàn kết; tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ.
  • Thực hiện chính sách cán bộ: Triển khai các chế độ tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính phủ, đồng thời ban hành các cơ chế hỗ trợ đặc thù của tỉnh cho cán bộ đi học và cán bộ công tác tại các xã miền núi, vùng sâu, biên giới.

Chương 4: Nhận xét và một số kinh nghiệm

Chương 4 tổng kết toàn diện quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An từ năm 1996 đến năm 2015:

Về ưu điểm:

  • Ban hành hệ thống chủ trương, nghị quyết kịp thời, sát hợp với đặc điểm địa phương.
  • Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có bước trưởng thành vượt bậc về số lượng và chất lượng; tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học, trung cấp chuyên môn và trung cấp lý luận chính trị tăng rõ rệt so với năm 1996; cơ cấu độ tuổi, tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số chuyển biến tích cực.
  • Năng lực tổ chức thực hiện, quản lý điều hành kinh tế - xã hội và giải quyết các vấn đề phát sinh ở cơ sở được nâng cao, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội tại địa bàn.

Về hạn chế:

  • Chất lượng cán bộ giữa các vùng miền còn chênh lệch lớn, đặc biệt là giữa đồng bằng với vùng núi cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng giáo.
  • Công tác quy hoạch cán bộ ở một số nơi còn mang tính hình thức, khép kín; luân chuyển cán bộ cơ sở có lúc chưa đạt yêu cầu đề ra.
  • Năng lực điều hành, quản lý đất đai, tài nguyên, giải quyết đơn thư khiếu nại của một bộ phận cán bộ xã còn yếu, cá biệt có cán bộ vi phạm kỷ luật.

5 bài học kinh nghiệm được đúc kết:

  1. Nhận thức đúng đắn vai trò, vị trí, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở.
  2. Quán triệt và vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ trương của Đảng vào điều kiện thực tiễn của địa phương, kịp thời đề ra chủ trương, biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở phù hợp.
  3. Tập trung lãnh đạo, thực hiện có hiệu quả các khâu trong công tác cán bộ, đồng thời lựa chọn đúng khâu đột phá để tạo sự chuyển biến căn bản trong đội ngũ cán bộ cơ sở.
  4. Tăng cường phối kết hợp các cấp, các ngành, phát huy vai trò của nhân dân, của các đoàn thể quần chúng trong xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, coi trọng vai trò tự đào tạo, tự rèn luyện của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở.
  5. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá, sử dụng cán bộ một cách khách quan, khoa học và công tâm.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đạt được những kết quả khoa học và đóng góp mới cụ thể:

  • Về mặt lịch sử: Tái hiện chân thực, hệ thống và khách quan toàn bộ tiến trình lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở qua 4 kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh từ năm 1996 đến năm 2015, lấp đầy khoảng trống tư liệu chuyên ngành Lịch sử Đảng về địa bàn Nghệ An.
  • Về mặt tổng kết thực tiễn: Góp phần tổng kết việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước ở cấp cơ sở thông qua thực tiễn một địa phương có quy mô địa bàn và dân số lớn, địa hình đặc thù như Nghệ An.
  • Về mặt luận cứ chính sách: Cung cấp hệ thống cứ liệu thực tiễn và 5 bài học kinh nghiệm khoa học làm căn cứ để Tỉnh ủy, các cấp ủy Đảng tỉnh Nghệ An và các địa phương có đặc điểm tương đồng tham khảo nhằm bổ sung, hoàn thiện các chủ trương, chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã trong các giai đoạn tiếp theo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn ở nhóm cán bộ giữ chức danh chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) trên địa bàn tỉnh Nghệ An, chưa bao quát toàn bộ các đối tượng công chức chuyên môn cấp xã hoặc cán bộ cấp huyện, tỉnh.
  • Khung thời gian nghiên cứu dừng lại ở mốc năm 2015, chưa phản ánh các chủ trương mới về sắp xếp tinh gọn bộ máy và công tác cán bộ theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa XII của Trung ương Đảng.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An đối với công tác cán bộ cơ sở trong giai đoạn từ 2015 đến nay, đặc biệt là việc sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã và sắp xếp chức danh cán bộ không chuyên trách.
  • Nghiên cứu so sánh công tác xây dựng cán bộ cơ sở của Nghệ An với các tỉnh khác trong khu vực Bắc Trung Bộ hoặc các tỉnh có địa bàn miền núi đặc thù.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với các nhóm đối tượng:

  • Nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Chính trị học khi tiếp cận nguồn tư liệu thực tế và phương pháp nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương.
  • Giảng viên, cơ sở đào tạo: Sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy môn Lịch sử Đảng bộ địa phương tại Trường Chính trị tỉnh Nghệ An, các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện và các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn.
  • Cơ quan lãnh đạo, quản lý và cán bộ tham mưu: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ và cấp ủy cấp huyện trong việc hoạch định quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bố trí và thực hiện chính sách đối với cán bộ chủ chốt cấp xã.

Câu hỏi thường gặp

1. Đối tượng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong luận án gồm những chức danh cụ thể nào?
Luận án tiếp cận đối tượng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tại các xã, phường, thị trấn bao gồm 11 chức danh thuộc 3 khối:

  • Khối Đảng: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy cấp xã.
  • Khối Chính quyền: Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã.
  • Khối Đoàn thể chính trị - xã hội: Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân và Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cấp xã.

2. Thực trạng trình độ của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Nghệ An tại thời điểm năm 1996 ra sao?
Năm 1996, chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Nghệ An còn nhiều bất cập: có tới 67,7% cán bộ chưa qua đào tạo chuyên môn (tại các xã vùng cao lên tới 86,75%); 77,49% chưa qua bồi dưỡng quản lý nhà nước; cơ cấu tuổi đời cao (66,51% từ 41 tuổi trở lên, dưới 30 tuổi chỉ chiếm 4,78%). Riêng tại huyện miền núi Kỳ Sơn, có 12% cán bộ trình độ tiểu học, 81,9% chưa đào tạo chuyên môn và 46,8% chưa qua đào tạo lý luận chính trị.

3. Tỉnh ủy Nghệ An đã có những chủ trương, nghị quyết chuyên đề tiêu biểu nào về công tác cán bộ trong giai đoạn 1996 - 2005?
Trong giai đoạn này, Tỉnh ủy Nghệ An đã ban hành 2 nghị quyết chuyên đề quan trọng:

  • Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 05/01/1997 về chủ trương, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quy định trích 2% ngân sách tỉnh, huyện cho đào tạo cán bộ và hỗ trợ học sinh giỏi đại học về công tác tại địa phương.
  • Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 16/8/2002 về công tác tổ chức và cán bộ đến năm 2005 và những năm tiếp theo, đặt mục tiêu chuẩn hóa 100% cán bộ chuyên trách cấp xã.

4. Luận án đúc kết được bao nhiêu bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An?
Luận án đã đúc kết được 5 bài học kinh nghiệm:

  1. Nhận thức đúng đắn vai trò, vị trí của cán bộ và công tác cán bộ cấp cơ sở.
  2. Vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ trương của Trung ương vào đặc điểm thực tiễn địa phương.
  3. Thực hiện hiệu quả, đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ và chọn đúng khâu đột phá.
  4. Tăng cường phối hợp các cấp ngành, phát huy vai trò giám sát của nhân dân, đoàn thể và ý thức tự đào tạo của cán bộ.
  5. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ công tâm, khách quan và khoa học.

5. Luận án khảo sát tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An qua bao nhiêu kỳ Đại hội?
Luận án khảo sát xuyên suốt qua 4 kỳ Đại hội của Đảng bộ tỉnh Nghệ An: Đại hội XIV (năm 1996), Đại hội XV (năm 2001), Đại hội XVI (năm 2005) và Đại hội XVII (năm 2010), kết thúc vào năm 2015 khi địa phương chuẩn bị Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của tác giả Dương Thanh Bình đã phục dựng một cách khách quan, toàn diện và có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1996 đến năm 2015. Bằng phương pháp lịch sử kết hợp logic và thống kê tư liệu lưu trữ xác thực, công trình đã làm sáng tỏ các chủ trương, biện pháp chỉ đạo đồng bộ 4 khâu nghiệp vụ cán bộ, khẳng định những chuyển biến tích cực về chất lượng cán bộ cũng như chỉ ra các tồn tại cần khắc phục. Năm bài học kinh nghiệm được luận án đúc kết có giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc, là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị cơ sở tại Nghệ An cũng như trên phạm vi cả nước.